1. Bảo hiểm nhân thọ là gì ?

Theo Khoản 1 - Điều 12 - Luật kinh doanh bảo hiểm về khái niệm bảo hiểm nhân thọ là gì:

"Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.:

Bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm được công ty bảo hiểm cung cấp nhằm bảo vệ người tham gia bảo hiểm trước rủi ro về sức khỏe, tính mạng bằng cách chi trả, bồi thường khi các sự kiện liên bảo hiểm xảy ra.

Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ:

Hợp đồng bảo hiểm con người có đặc điểm:

- Thời hạn hợp đồng thường kéo dài, đặc biệt là những hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Vì thế, trong quá trình thực hiện hợp đồng, người tham gia bảo hiểm được quyền thay đổi nội dung hợp đồng, thí dụ như đề nghị giảm bớt số tiền bảo hiểm, thay đổi loại hình bảo hiểm nhân thọ, điều chỉnh thời hạn nộp phí và phương thức nộp phí...

- Hợp đồng bảo hiểm con người là loại hợp đồng thanh toán có định mức. Bởi vì, bảo hiểm con người chủ yếu áp dụng nguyên tắc khoán, nên định mức tối đa mà doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán cho người thụ hưởng chính là số tiền bảo hiểm. 

Về nguyên tắc số tiền bảo hiểm không hạn chế, chỉ cần 2 bên bàn bạc thống nhất với nhau là được. Tuy nhiên, các doanh nghiệp bảo hiểm thường có định mức sẵn từng loại để người tham gia dễ dàng lựa chọn.

- Một số loại hợp đồng bảo hiểm con người (chủ yếu là các loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ) là những hợp đồng mang tính tiết kiệm. 

Có thể hàng tháng, hàng quí, hàng năm người tham gia nộp phí cho doanh nghiệp bảo hiểm bằng những khoản tiền nhỏ, cho tới khi người được bảo hiểm qua đời hay đến hết hạn hợp đồng anh ta còn sống, người thân hoặc bản thân anh ta sẽ nhận được một khoản tiền đáng kể giống như tiền gửi tiết kiệm. 

Có khác chăng là số tiền này không thể tuỳ ý lấy ra, mà phải tới khi xảy ra sự kiện bảo hiểm mới được nhận lại.

- Trong quá trình thực hợp đồng, nếu bên mua bảo hiểm không đóng hoặc đóng phí bảo hiểm không đủ thì doanh nghiệp bảo hiểm không được khởi kiện truy đòi bên mua đóng phí bảo hiểm. Đặc điểm này khác hẳn với những hợp đồng kinh tế thông thường diễn ra trong thực tế.

- Đối với các hợp đồng bảo hiểm con người, doanh nghiệp bảo hiểm không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn. Nếu người thứ ba trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên cái chết, thương tật hoặc ốm đau cho người được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm theo đúng các thoả thuận đã ghi trong hợp đồng.

Đồng thời, người thứ ba phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm theo qui định của pháp luật.

>> Xem thêm: Đủ bao nhiêu tuổi mới được mua bảo hiểm nhân thọ?

 

2. Quy định về thông báo độ tuổi trong bảo hiểm nhân thọ

2.1 Nghĩa vụ thông báo tuổi

Theo Khoản 1 Điều 34 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng để làm cơ sở tính phí bảo hiểm. Theo đó:

- Việc thông báo tuổi được thực hiện bởi bên mua bảo hiểm và thực hiện trước khi giao kết hợp đồng, tức trong quá trình thỏa thuận để thực hiện hợp đồng

- Người được bảo hiểm có thể không phải là bên mua bảo hiểm, do đó, khi cung cấp thông tin, bên mua bảo hiểm phải cung cấp thông tin của người thụ hưởng tiền bảo hiểm (hoặc tiền bồi thường) khi xảy ra sự kiện bảo hiểm chứ không cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm.

- Nghĩa vụ thông báo tuổi nhằm xác định cơ sở tính phí bảo hiểm, do bảo hiểm nhân thọ có thời hạn bảo hiểm dựa trên tuổi của người tham gia bảo hiểm.

 

2.2 Xử lý trong trường hợp thông báo sai tuổi

a. Trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm, nhưng tuổi đúng của người được tham gia bảo hiểm không thuộc nhóm có thể được bảo hiểm

Trong trường hợp này, theo Khoản 2 Điều 34 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019:

- Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan: Hậu quả hủy bỏ hợp đồng là hợp đồng bảo hiểm không còn hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận (trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp), đồng thời phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý thực hiện hợp đồng (bao gồm các chi phí cho việc giao kết và lưu trữ hợp đồng trong thời gian chưa phát hiện bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi).

- Nếu hợp đồng bảo hiểm có giá trị từ 02 năm trở lên thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm: Giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm là giá trị tài khoản bảo vệ trừ đi phí hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm, được tạo ra từ phí dự phòng được trích lập từ phí bảo hiểm thu được và sự tích lũy từ việc đầu tư phí bảo hiểm. Theo đó, giá trị hoàn lại này cũng là một phần trong phí bảo hiểm nên cần được hoàn trả cho bên mua bảo hiểm khi hợp đồng bảo hiểm bị hủy bỏ.

b. Trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm làm giảm số phí bảo hiểm phải đóng nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm có thể được bảo hiểm

Theo Khoản 3 Điều 34 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, trong trường hợp này, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

- Yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm bổ sung tương ứng với số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng: Theo đó, các bên vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhưng bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ phải thực hiện đóng phí bảo hiểm ở mức tương ứng với mức trách nhiệm bảo hiểm ban đầu mà bên nhận bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm) đã cung cấp.

- Giảm số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng: Ngược lại với cách trên, doanh nghiệp bảo hiểm có thể giảm trừ trách nhiệm của mình để tương ứng với phần phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đã đóng và không cần bên mua bảo hiểm đóng thêm phí bảo hiểm.

c. Trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm dẫn đến tăng số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm có thể được bảo hiểm

Theo Khoản 4 Điều 34 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, trong trường hợp này, doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện trách nhiệm thực hiện một trong 02 cách sau:

- Hoàn trả cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm vượt trội đã đóng: Việc hoàn trả nhằm đảm bảo số phí bảo hiểm và trách nhiệm bảo hiểm trở về vị trí tương ứng.

- Tăng số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí đã đóng: Tức doanh nghiệp bảo hiểm tăng trách nhiệm của mình cho tương ứng với mức phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đã đóng.

 

3. Quyền của công ty bảo hiểm trong trường hợp người mua bảo hiểm thông báo sai tuổi

Từ những quy định trên có thể thấy nếu người được bảo hiểm khai báo sai tuổi thì công ty bảo hiểm có các quyền sau:

Nếu tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan cho bên mua bảo hiểm. Ảnh minh họa.

Nếu tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan cho bên mua bảo hiểm. 

Nếu hợp đồng đã có hiệu lực từ 2 năm trở lên thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm.

 

3.1 Yêu cầu bên mua bảo hiểm nộp phí bảo hiểm bổ sung hoặc giảm số tiền bảo hiểm

Nếu tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm, tuy nhiên việc khai báo sai tuổi làm giảm số phí bảo hiểm phải đóng thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

- Yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm bổ sung tương ứng với số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng.

- Giảm số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng.

 

3.2 Hoàn trả số phí bảo hiểm đóng dư

Nếu việc khai báo sai tuổi làm tăng số phí bảo hiểm phải đóng thì doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn trả cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm dư đã đóng hoặc tăng số tiền bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng. Ảnh minh họa.

Nếu tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm, tuy nhiên việc khai báo sai tuổi làm tăng số phí bảo hiểm phải đóng thì doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn trả cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm dư đã đóng hoặc tăng số tiền bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng.

Như vậy, nếu bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi thì trường hợp xấu nhất là hợp đồng bảo hiểm của bạn sẽ bị hủy, mọi quyền lợi bảo hiểm sẽ bị chấm dứt. Vì vậy, khách hàng cần lưu ý khi khai báo thông tin để đảm bảo quyền lợi khi tham gia.

 

4. Mức độ ảnh hưởng của độ tuổi đến phí bảo hiểm nhân thọ

Trong bảo hiểm nhân thọ, phí bảo hiểm được xác định dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, trong đó độ tuổi của người được bảo hiểm là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức phí.. 

Đối với việc tính xác định phí bảo hiểm trên cơ sở độ tuổi, Khoản 1, Điều 34, Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 đã quy định rõ: Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm. 

Mua bảo hiểm nhân thọ khi còn trẻ là sự lựa chọn thông minh để có mức phí tốt nhất.

>> Xem thêm: Cá nhân mua bảo hiểm nhân thọ phải từ đủ bao nhiêu tuổi trở lên?