1.Thay đổi họ.

 Các trường hợp. Theo khoản 1 Ðiều 29 BLDS 1995, việc thay đổi họ được cho phép trong những trường hợp sau đây:

 1 - Theo yêu cầu của đương sự, mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của mình; 2 - Theo yêu cầu của cha, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ tên mà cha, mẹ đẻ đã đặt;

3 - Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;

 4 - Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại;

 5 - Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc từ nhỏ mà tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

6 - Các trường hợp khác do pháp luật quy định. BLDS năm 2005 giữ nguyên các trường hợp này, đồng thời ghi nhận thêm trường hợp đổi họ, tên do đã xác định lại giới tính (Điều 27 khoản 1 điểm e).

2. Nhận xét 

Điều nhận xét đầu tiên là, dù luật không khẳng định rành mạch bằng một quy tắc viết, có thể thừa nhận nguyên tắc theo đó họ của cá nhân không thể thay đổi. Việc thay đổi họ chỉ được ghi nhận như các ngoại lệ trong các trường hợp do pháp luật quy định. Giải pháp này phù hợp với bản chất của họ - dấu hiệu của nguồn gốc gia đình. Cũng chính vì họ không thể thay đổi, trừ trường hợp được pháp luật cho phép, mà việc tự tiện thay đổi họ đồng nghĩa với việc sử dụng họ tên giả. Mặt khác, việc thay đổi họ, trong những trường hợp được pháp luật dự kiến, chỉ được thực hiện trên cơ sở có yêu cầu của những người có liên quan chứ không bao giờ là hệ quả đương nhiên của một giao dịch hoặc một sự kiện pháp lý (ví dụ, nhận con nuôi). Điếu chắc chắn là người có họ được thay đổi, trong điều kiện có đủ năng lực hành vi dân sự, phải đồng ý về việc thay đổi đó: không thể có sự thay đổi họ mang tính áp đặt . Thậm chí, trong trường hợp người có họ cần được thay đổi chưa thành niên, thì sự đồng ý của người này là điều kiện bắt buộc, nếu người này đã đủ 9 tuổi trở lên (BLDS năm 2005 Điều 27 khoản 2). - Trường hợp thứ nhất ghi trên, theo tập quán, chỉ được áp dụng đối với việc thay đổi tên: “họ” trước hết là một giá trị tinh thần, giá trị đạo đức; nói rằng mang một họ nào đó, thì sẽ bị mất danh dự... là một hành vi có tác dụng phủ nhận nguồn gốc và bị coi như phi đạo đức . - Trường hợp xác định lại giới tính, hẳn đương sự cũng chỉ có quyền đổi tên chứ không có quyền đổi cả họ. Nói rõ hơn, thay đổi giới tính tự nó không thể là lý do để xin thay đổi họ. Thủ tục. Khác với luật của nhiều nước, luật Việt Nam quy định thủ tục thay đổi họ trong khuôn khổ thay đổi nội dung chứng thư hộ tịch, chính xác hơn nữa là thay đổi nội dung giấy khai sinh . Thủ tục thay đổi nội dung giấy khai sinh, về phần mình, là thủ tục thống nhất, được áp dụng chung cho tất cả các trường hợp xin thay đổi nội dung giấy khai sinh:không có thủ tục riêng đối với việc thay đổi họ và thủ tục riêng áp dụng đối với một yêu cầu thay đổi nào đó khác. Thủ tục này được ghi nhận tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005, sẽ được nghiên cứu sau.

3. Thay đổi tên

Các trường hợp. Như đã biết, BLDS năm 2005 (và cả BLDS năm 1995) không phân biệt các trường hợp thay đổi họ và các trường hợp thay đổi tên: Điều 27 khoản được áp dụng chung cho cả việc thay đổi họ và tên. Thực ra, việc thay đổi tên thường được yêu cầu trong trường hợp a của khoản 1 Ðiều 27 và có thể trong trường hợp thay đổi giới tính, dự kiến tại điểm e khoản 1 của Điều luật. Việc xác định thế nào là tên gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của người đó không phải là việc đơn giản. Chắc chắn, một tên đặt bằng một từ ngữ thô tục có thể khiến người mang tên đó cảm thấy tủi hổ và muốn rũ bỏ. Có trường hợp một người xuất thân từ một gia đình nghèo và mang một tên quê mùa hay buồn cười, nay thành đạt và giàu có, mong muốn thay đổi một tên khác phù hợp với thành phần xã hội của mình. Cũng có trường hợp một tên vốn bình thường, nhưng sau một sự kiện nào đó, lại trở thành biểu tượng của điều ác, điều xấu, khiến người có tên đó không muốn mang nó nữa24 . Có tên chỉ thích hợp với một thời kỳ lịch sử nào đó; khi thời kỳ đó qua đi, thì tên trở nên cổ lỗ, không còn phù hợp với cuộc sống mới. Trong trường hợp giới tính của một người thay đổi, việc đổi tên tỏ ra cần thiết,một khi tên được mang trước lúc thay đổi giới tính chỉ phù hợp với giới tính cũ. Việc đánh giá tính phù hợp hay không phù hợp của tên với giới tính hẳn phải dựa vào tục lệ đặt tên của vùng, địa phương nơi cư trú của người có tên đó. Ví dụ, ở miền Nam Việt Nam hầu như không có người nào thuộc giới tính nam mang tên Phượng; bởi vậy, một cô gái miền Nam tên Phượng, sau khi chuyển đổi giới tính, có lý do chính đáng để xin đổi một tên khác. Trong các trường hợp còn lại, các yêu cầu thường chỉ dừng lại ở việc thay đổi họ. Tuy nhiên, có những người . Người yêu cầu và thủ tục. Người yêu cầu thay đổi tên là chính đương sự hoặc cha mẹ hay người đại diện, trong trường hợp đương sự không có năng lực hành vi. Thủ tục thay đổi tên, trong khung cảnh của luật thực định, cũng được thực hiện giống như thủ tục thay đổi họ, nghĩa là trong khuôn khổ thủ tục thay đổi nội dung giấy khai sinh, sẽ được phân tích sau.

4. Hệ quả của việc thay đổi họ tên.

Không ảnh hưởng đến nhân thân. Tất nhiên, sau khi thay đổi họ tên, đương sự được quyền yêu cầu cải chính nội dung của các giấy tờ tuỳ thân của mình cho phù hợp với tên mới . Việc thay đổi họ tên không có tác dụng làm thay đổi lai lịch, nhân thân của đương sự. Đơn giản, trước khi họ tên thay đổi, đương sự mang họ tên cũ; sau khi họ tên thay đổi, đương sự mang họ tên mới. Về mặt pháp lý, hai người, được chỉ định bằng hai họ tên khác nhau, chỉ là một. Tất nhiên, sau ngày họ tên thay đổi, họ tên mới của đương sự trở thành họ tên thật26 và đương sự có nghĩa vụ sử dụng họ và tên đó trong tất cả các trường hợp giao dịch mà theo quy định của pháp luật, đương sự phải sử dụng họ tên thật. Thế nhưng, "việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi. chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ tên cũ (BLDS năm 2005 Điều 27 khoản 3). Người có họ tên được thay đổi tiếp tục là chủ thể của các quan hệ xác lập dưới tên cũ và tiếp tục có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ ấy: người vay nợ của Ngân hàng, sau khi đổi họ, tên, tiếp tục là người có nghĩa vụ trả nợ vay đối với ngân hàng, dưới họ, tên mới. Ngay cả trong trường hợp các quan hệ pháp luật xác lập trước ngày thay đổi họ và tên đã chấm dứt, thì các quan hệ ấy vẫn tiếp tục gắn với người có họ tên được thay đổi, như là một phần lịch sử của người đó.

5. Thủ tục thay tên, đổi họ

Về nguyên tắc, họ, tên chính thức của mỗi người cần phải được giữ ổn định, tránh sự thay đổi tùy tiện gây khó khăn cho giao lưu dân sự, cho công tác quản lý hộ tịch nói riêng và quản lý hành chính nói chung. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, cá nhân có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền cho thay đổi họ tên của mình.

Theo quy định tại Điều 27 Bộ Luật dân sự 2005 về ‘‘quyền thay đổi họ, tên’’ thì một trong các trường hợp cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên là “theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó”.

Do người cậu khi đi khai sinh mà ngẫu nhiên bạn phải mang họ Trần, trong khi không biết cha bạn họ gì, còn mẹ bạn lại họ Nguyễn. Trường hợp này được coi là “việc sử dụng họ, tên đó gây… ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến… quyền, lợi ích hợp pháp của người đó”.

Do vậy, bạn có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho thay đổi họ hiện tại của bạn từ họ “Trần” sang họ “Nguyễn” theo họ của mẹ bạn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ “Về đăng ký và quản lý hộ tịch” thì trường hợp của bạn cần tiến hành thủ tục thay đổi hộ tịch vì yêu cầu đặt ra là “thay đổi họ, tên, chữ đêm đã được đăng ký đúng trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh, nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự”.

Nghị định nói trên cũng quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự thủ tục đối với việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch như sau:

- UBND cấp huyện, mà trong địa hạt của huyện đó đương sự đã đăng ký khai sinh trước đây, có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên và xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi.

- Người yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người cần thay đổi, cải chính hộ tịch và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi, cải chính hộ tịch.

- Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu việc thay đổi, cải chính hộ tịch có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, thì cán bộ tư pháp hộ tịch hoặc cán bộ tư pháp của Phòng Tư pháp ghi vào sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch và quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch.

Chủ tịch UBND huyện ký và cấp cho đương sự một bản chính quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch. Bản sao quyết định được cấp theo yêu cầu của đương sự.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày. Nội dung và căn cứ thay đổi, cải chính hộ tịch sẽ được ghi chú vào cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính giấy khai sinh.

Theo quy định trên, bạn cần liên hệ với Phòng Tư pháp huyện nơi bạn đã đăng ký khai sinh trước đây để làm thủ tục thay đổi hộ tịch. Tại đây, bạn phải nộp tờ khai (theo mẫu), xuất trình bản chính giấy khai sinh của bạn và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi họ (giấy tờ chứng minh không rõ cha bạn là ai, chứng minh mẹ bạn họ Nguyễn…).

Trong thời hạn tối đa 10 ngày, bạn sẽ được nhận một bản chính quyết định cho phép thay đổi hộ tịch và các bản sao (cấp theo yêu cầu của bạn).

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)