1. Khái quát về dự trữ quốc gia và hoạt động dự trữ quốc gia

Theo quy định của Điều 1 Điều 4 trong Luật Dự trữ quốc gia 2012, Dự trữ quốc gia được định nghĩa là việc Nhà nước duy trì và quản lý các nguồn vật tư, trang thiết bị, và hàng hóa.

Dự trữ quốc gia, trong bản chất, bao gồm các trang thiết bị và hàng hóa được quản lý bởi Nhà nước để chuẩn bị đáp ứng các tình huống khẩn cấp và ứng phó với các tình huống đặc biệt như thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, và phục vụ cho mục tiêu về quốc phòng và an ninh. Điều này được ghi rõ trong khoản 1 Điều 4 của Luật Dự trữ quốc gia 2012.

Theo Khoản 2 Điều 4 trong cùng Luật, hoạt động dự trữ quốc gia được xác định như sau: Hoạt động dự trữ quốc gia bao gồm việc phát triển, thực hiện chiến lược, lập kế hoạch, và dự toán ngân sách liên quan đến dự trữ quốc gia. Nó cũng bao gồm việc xây dựng và duy trì cơ sở hạ tầng vật chất và kỹ thuật, cũng như quản lý, điều hành, và sử dụng các tài sản trong dự trữ quốc gia.

Theo Tổng cục Dự trữ Nhà nước, ngành Dự trữ quốc gia luôn thu hút sự quan tâm của Quốc hội, Chính phủ, và Thủ tướng Chính phủ, và hàng năm luôn được bố trí mức tăng ngân sách nhà nước dành cho Dự trữ quốc gia. Các con số thống kê cho thấy rằng trong giai đoạn này, ngân sách nhà nước đã phải chi ra hơn 8.000 tỷ đồng cho mục đích này. Đến cuối năm 2020, tổng mức dự trữ quốc gia đã đạt trên 11.000 tỷ đồng, tăng lên gấp 1,25 lần so với năm 2015 và gấp khoảng 1,7 lần so với năm 2010.

Theo Tổng cục Dự trữ Nhà nước, trong giai đoạn từ 2021 đến 2030, những biến đổi không thường của biến đổi khí hậu, thiên tai, thảm họa và đặc biệt là đại dịch Covid-19 đã gây ra ảnh hưởng tiêu cực đối với hầu hết các khía cạnh trong cuộc sống xã hội. Có những vấn đề liên quan đến an ninh và quốc phòng tiềm ẩn nhiều nguy cơ không thể dự đoán, và chúng đòi hỏi có sẵn tiềm lực dự trữ quốc gia đủ mạnh để có thể ứng phó kịp thời với các tình huống đột ngột và khẩn cấp.

Để tăng cường nguồn lực dự trữ quốc gia trong giai đoạn mới và sử dụng ngân sách nhà nước hiệu quả cho mục đích dự trữ quốc gia, Tổng cục Dự trữ Nhà nước đã đề ra mục tiêu nâng cao hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng nguồn lực dự trữ quốc gia. Họ đang xây dựng một lực lượng dự trữ quốc gia với quy mô mạnh mẽ, bao gồm một danh mục các sản phẩm chiến lược, thiết yếu, tiên tiến, hiện đại, và thường xuyên sử dụng để sẵn sàng và chủ động ứng phó kịp thời trong các tình huống khẩn cấp liên quan đến phòng chống thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, và để phục vụ quốc phòng, an ninh, cũng như các nhiệm vụ được giao bởi Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Đặc biệt, việc thúc đẩy và áp dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý nội bộ và quản lý hàng hóa đang được tăng cường, hướng đến việc hiện đại hóa. Cùng với đó, việc kiểm tra, tái cơ cấu, và tối ưu hóa tổ chức bộ máy quản lý đang được tiếp tục thực hiện để đảm bảo sự hiệu quả và hiệu lực trong hoạt động. Cần tăng cường quá trình kiểm tra và giám sát nội bộ tại các bộ và ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia, nhằm đảm bảo tính chặt chẽ trong việc quản lý và điều hành hoạt động dự trữ quốc gia.

 

2. Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia là gì?

Hệ thống chỉ tiêu thống kê của ngành Dự trữ quốc gia, theo sự giải thích tại Điều 1, Khoản 1 của Thông tư 72/2018/TT-BTC, bao gồm các yếu tố sau:

- Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia là một tập hợp các chỉ tiêu thống kê mô tả các hoạt động liên quan đến việc hình thành, quản lý và sử dụng các tài sản dự trữ quốc gia. Đồng thời, nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng Chế độ báo cáo thống kê của ngành Dự trữ quốc gia.

- Danh mục các chỉ tiêu thống kê của ngành Dự trữ quốc gia đã được quy định cụ thể trong PHỤ LỤC I, được đính kèm theo Thông tư 72/2018/TT-BTC.

- Chi tiết về nội dung của các chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia được quy định tại PHỤ LỤC II, đính kèm theo Thông tư 72/2018/TT-BTC.

Với những quy định này, hệ thống chỉ tiêu thống kê của ngành Dự trữ quốc gia có nhiệm vụ phản ánh các khía cạnh liên quan đến việc hình thành, quản lý và sử dụng nguồn lực dự trữ quốc gia, và đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng Chế độ báo cáo thống kê của ngành Dự trữ quốc gia.

 

3. Trách nhiệm chủ trì kiểm tra số liệu hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia

Về việc chịu trách nhiệm trong việc kiểm tra số liệu hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia, quy định tại Khoản 1, Điều 2 của Thông tư 72/2018/TT-BTC rõ ràng như sau:

Theo quy định này, Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) đóng vai trò chính trong việc kiểm tra và tổng hợp số liệu thống kê từ Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia, với các trách nhiệm cụ thể:

- Tiếp nhận, tổng hợp báo cáo, sử dụng và cung cấp thông tin liên quan đến các chỉ tiêu thống kê mà Thông tư quy định trong danh mục chỉ tiêu thống kê ngành dự trữ quốc gia.

- Thực hiện rà soát, chỉnh sửa, bổ sung và chuẩn hóa các khái niệm, nội dung, và phương pháp tính toán của các chỉ tiêu nằm trong Danh mục chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia.

- Phát triển chế độ báo cáo thống kê ngành Dự trữ quốc gia dựa trên Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia và trình Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành.

Các Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động dự trữ quốc gia cũng có trách nhiệm hợp tác, thu thập, lập báo cáo và cung cấp thông tin theo chỉ tiêu thống kê được quy định trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý. Họ cũng phải hợp tác trong việc cung cấp thông tin và kiểm tra công tác thống kê định kỳ hoặc đột xuất.

Thủ trưởng các Bộ, ngành có trách nhiệm quản lý hàng dự trữ quốc gia, Tổng cục trưởng Tổng cục Dự trữ Nhà nước, cũng như các đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động dự trữ quốc gia phải tuân thủ quy định về bảo mật thông tin thống kê theo quy định của pháp luật.

Do đó, theo quy định trên, Bộ Tài chính (cụ thể là Tổng cục Dự trữ Nhà nước) đảm nhiệm vai trò chính trong việc kiểm tra và tổng hợp các dữ liệu thống kê trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia.

 

4. Công thức tính nguồn hình thành dự trữ quốc gia trong hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia

Nguồn hình thành dự trữ quốc gia trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia được tính bằng cách tuân theo công thức được quy định tại tiết 1 tiểu mục 0101, Mục 01 Phụ lục II của Thông tư 72/2018/TT-BTC. Theo quy định này, nguồn hình thành dự trữ quốc gia trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia được xác định theo công thức sau:

Nguồn hình thành dự trữ quốc gia = Tổng chi tiêu từ ngân sách nhà nước dành cho việc mua sắm hàng dự trữ quốc gia (bao gồm chi dự trữ quốc gia, chi thường xuyên và chi khác) + Nguồn lực hợp pháp từ các nguồn khác ngoài ngân sách nhà nước.

Bài viết liên quan:

Quỹ dự trữ quốc gia là gì? Quy định về quỹ dự trữ quốc gia

Chỉ tiêu thống kê là gì? Các loại chỉ tiêu thống kê kèm ví dụ

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Dự trữ quốc gia. Mọi thắc mắc cần tham vấn về mặt pháp lý mời quý khách hàng vui lòng liên hệ đến số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin cảm ơn đã quan tâm theo dõi nội dung bài viết của chúng tôi!