1. Về khái niệm tội phạm
Trong Bộ luật hình sự Việt Nam, khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 với nội dung như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Khác với cách quy định của Việt Nam, Bộ luật hình sự Singapore quy định khái niệm tội phạm tại Điều 40 với nội dung:
“1. Trừ trường hợp theo chương này và theo các điều được quy định tại khoản 2 và 3, tội phạm có nghĩa là hành vi bị trừng phạt theo quy định của Bộ luật này.
2. Trong chương IV và chương VA và các điều 71, 109, 110, 112, 114, 115, 116, 117, 187, 194, 195, 203, 211, 213, 214, 221, 222, 223, 224, 225, 327, 328, 329, 330, 331, 347, 348, 388, 389, 445, tội phạm có nghĩa là hành vi bị trừng phạt theo quy định của Bộ luật này hoặc các đạo luật khác đang có hiệu lực.
3. Trong các điều 141, 176, 177, 201, 202, 212, 216, 441, tội phạm có nghĩa là hành vi bị trừng phạt theo quy định của đạo luật khác đang có hiệu lực và từ 6 tháng tù trở lên, có thể kèm theo hình phạt tiền hoặc không.”
Như vậy, cách định nghĩa về tội phạm trong hai Bộ luật này không giống nhau: định nghĩa về tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam là định nghĩa về nội dung trong khi định nghĩa về tội phạm trong Bộ luật hình sự Singapore là định nghĩa về hình thức. Bên cạnh đó, quy định này cũng cho thấy ở Việt Nam tội phạm chỉ được quy định trong Bộ luật hình sự còn ở Singapore tội phạm được quy định trong cả Bộ luật hình sự và các đạo luật khác như: đạo luật về vũ khí ngày 8.2.1974, đạo luật về kiến trúc sư ngày 30.8.1991, đạo luật về động vật và chim ngày 22.10.1965, đạo luật về hàng không ngày 13.5.1966, đạo luật về chỉ dẫn y tế ngày 1.7.1997
2. Về nguồn của luật hình sự
Cả Việt Nam và Singapore đều quy định Bộ luật hình sự là nguồn của luật hình sự nhưng khác nhau ở chỗ văn bản này có được coi là nguồn duy nhất của luật hình sự hay không. Ở Việt Nam, Bộ luật hình sự là nguồn duy nhất của luật hình sự, mọi vấn đề về tội phạm và hình phạt được quy định tập trung trong Bộ luật hình sự. Khác với cách quy định về nguồn của tội phạm và hình phạt ở Việt Nam, nguồn của luật hình sự Singapore không chỉ là Bộ luật hình sự mà còn bao gồm khoảng trên 150 văn bản pháp luật chuyên ngành khác.
3. Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Tại Điều 12 Bộ luật hình sự Việt Nam quy định: người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Khác với cách quy định này, Điều 82 Bộ luật hình sự Singapore quy định: việc trẻ em dưới 7 tuổi thực hiện không bị coi là tội phạm; Điều 83 đạo luật này quy đinh: hành vi của trẻ em từ 7 tuổi đến dưới 12 tuổi, những người chưa có đầy đủ khả năng hiểu biết để đánh giá bản chất hoặc hậu quả của xử sự của mình trong hoàn cảnh đó thì không phải là tội phạm.
Như vậy, độ tuổi của chủ thể theo quy định của luật hình sự Việt Nam tương đối cao so với độ tuổi của chủ thể theo quy định của luật hình sự Singapore. Bên cạnh đó, nếu như độ tuổi của chủ thể theo quy định của luật hình sự Việt Nam được phân biệt dựa vào loại tội phạm được thực hiện (đối với trường hợp chủ thể đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi) thì độ tuổi của chủ thể theo quy định của luật hình sự Singapore lại gắn liền với khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của chủ thể trong trường hợp họ thực hiện hành vi cụ thể đó (đối với trường hợp từ 7 tuổi đến dưới 12 tuổi).
4. Về hệ thống hình phạt
Bộ luật hình sự Việt Nam quy định hệ thống hình phạt tại Điều 28 bao gồm các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung, trong đó, hình phạt chính gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình; hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc là công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền khi không áp dụng là hình phạt chính và trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính.
Bộ luật hình sự Singapore quy định hệ thống hình phạt tại Điều 53 bao gồm các hình phạt: tử hình, tù (chung thân và có thời hạn), tịch thu tài sản, phạt tiền và đánh roi.
Bộ luật hình sự Singapore không quy định các hình phạt không tước tự do của người bị kết án mà Việt Nam áp dụng là hình phạt cảnh cáo, hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt trục xuất, thay vào đó lại áp dụng hình phạt đánh roi.
5. Hình phạt roi ở Singapore
Hình phạt đánh roi là một hình thức trừng phạt thân thể hợp pháp được sử dụng rộng rãi ở Singapore. Nó có thể được chia thành nhiều bối cảnh: tư pháp, nhà tù, trường giáo dưỡng, quân đội, trường học, và trong nước hoặc tư nhân. Những thực hành đánh roi này phần lớn là một di sản và bị ảnh hưởng bởi sự cai trị của thực dân Anh tại Singapore. Các hình thức trừng phạt thân thể tương tự cũng được sử dụng ở một số thuộc địa cũ khác của Anh, bao gồm hai quốc gia láng giềng của Singapore là Malaysia và Brunei.
Phạt roi là dạng trừng phạt thân thể dành cho người đã bị kết tội của Singapore, du nhập từ Anh vào thế kỷ XIX. Đánh phạt bằng roi mây gần như không bao giờ là hình phạt duy nhất trong bản án mà phải đi kèm án phạt tù. Hơn 40 tội danh ở Singapore bắt buộc đi kèm phạt roi, bao gồm: phá hoại của công (vẽ bậy), hiếp dâm, kinh doanh dịch vụ cho vay tiền không có giấy phép, trộm cắp tài sản có chuẩn bị trước, cướp tài sản, tàng trữ vũ khí nguy hiểm, bán ma túy, buôn bán nhập khẩu pháo hoa… Nam giới nhập cư trái phép vào Singapore hoặc ở quá hạn thị thực hơn 90 ngày cũng bị phạt ít nhất ba roi. Số liệu của Bộ Ngoại giao Mỹ cho hay trong năm 2012, Singapore đã tuyên án 2.203 trường hợp bị đòn roi, trong đó có 1.070 người nước ngoài vi phạm các tội về di trú.
5.1. Nguyên tắc thi hành phạt roi
Người chịu án tử hình sẽ không bị phạt roi. Cũng theo Bộ luật Tố tụng Hình sự Singapore, người bị đánh chỉ phải nhận mức phạt tối đa 24 roi. Tuy vậy, một người vẫn có thể bị phạt hơn 24 roi nếu anh ta bị kết tội trong nhiều phiên xét xử khác nhau và bản án được thực thi riêng biệt. Trong một số trường hợp, nếu phạm nhân bị tuyên phạt roi nhưng không đủ sức khỏe để chịu phạt, tòa án sẽ kéo dài án tù thêm tối đa 12 tháng.
Nếu hình phạt đánh roi phải ngừng phạt giữa chừng, số roi chưa đánh sẽ do tòa án chuyển đổi thành thời gian ngồi tù tương đương. Thông thường, hình phạt đánh roi sẽ được thực hiện trong quá trình phạm nhân đang thi hành 1/3 thời gian đầu của án phạt tù.
Hình thức phạt đánh roi chỉ được thực hiện đối với những người có hành vi vi phạm là đàn ông từ 18 đến 50 tuổi, được cơ quan y tế xác định có tình trạng thể chất khỏe mạnh. Quy cách của loại roi được dùng để thi hành hình phạt của Singapore được pháp luật nước này quy định rất rõ. Theo đó, loại roi được dùng với người vi phạm là nam giới trưởng thành có chiều dài 1,2 m, đường kính 1,3 cm. Trước khi xử phạt, roi mây sẽ được ngâm trong nước qua đêm để tăng độ dẻo, đồng thời cũng tránh khả năng bị xước dăm trong quá trình sử dụng, để lại dằm trên da người vi phạm. Chiếc roi này cũng được bôi thuốc sát khuẩn để tránh gây nhiễm trùng vết thương trên người bị phạt.
5.2. Trình tự thi hành án phạt đánh roi
Việc thi hành án phạt đánh roi ở Singapore thường được tiến hành theo trình tự: người vi phạm phải cởi hết quần áo, bị trói chặt tay và chân bằng dây da ở tư thế úp vào một chiếc thang gỗ. Phần thân trên của người bị đánh sẽ được phủ một tấm đệm để tránh làm tổn thương những vùng này. Sau khi người bị phạt đã bị “khóa chặt” vào chiếc thang, không nhúc nhích được, người giám sát sẽ ra hiệu lệnh quất roi.
Người đánh roi là người khỏe mạnh, được đào tạo để có thể thực hiện những cú đánh gây đau đớn nhất có thể nhưng không để lại thương tật vĩnh viễn. Một số mô tả cho hay, cú quất roi có thể đạt tới tốc độ 160 km/h, tạo thành những đòn giáng vô cùng mạnh vào mông người bị phạt. Mỗi roi sẽ được thực hiện cách nhau khoảng 30 giây. Đôi khi, giới chức nhà tù có thể huy động tới 02 cán bộ thay phiên nhau thực hiện hình phạt để đảm bảo mỗi roi được đánh ra có lực đánh tối đa. Thông thường, phần mông của người bị phạt sẽ bật máu chỉ sau 3 roi đầu và gần như chắc chắn sẽ để lại sẹo.
Theo điều 330 của Bộ luật Tố tụng Hình sự Singapore, hình phạt đánh roi sẽ không được tiến hành nếu không có cán bộ y tế tại hiện trường để kiểm tra tình trạng sức khỏe của người bị phạt roi cả trước, trong và sau khi phạt. Cán bộ y tế có thể ngừng hình phạt bất cứ lúc nào nếu thấy người bị phạt không đủ khỏe mạnh. Các bác sĩ cũng kiểm tra tù nhân trước và sau khi bị đánh để đảm bảo anh ta phù hợp với hình phạt này.
Những người bị phạt đánh roi phải trải qua những áp lực về tâm lý rất lớn. “Thông thường, họ sẽ không được thông báo khi nào bị phạt. Điều này khiến họ mất ngủ, lo lắng, ớn lạnh. Họ cũng có thể cảm thấy xấu hổ”, ông Jan Kizilhan (Giáo sư Tâm lý học tại trường Villingen-Schwenningen) nói thêm về khía cạnh tâm lý của hình phạt này.
Việc phạt roi được tiến hành trong không gian kín, không công khai trước công chúng. Song, các tù nhân được cho thường xếp hàng chờ tới lượt bị quất. Vì vậy, những người phía sau vẫn có thể nhìn thấy phản ứng của người trước mình, khiến nhiều người cảm thấy mất thể diện vì bị phạt. Ngoài ra, dù vết thương có lành, những người bị phạt vẫn sẽ phải mang những vết sẹo suốt đời. Nhiều người từng bị phạt roi cho biết họ đã bị sốc vì cơn đau dữ dội. Họ cũng thừa nhận đó là một cú sốc lâu dài, khiến họ sau khi đã bị phạt roi rồi sẽ không dám phạm luật thêm lần nào nữa.
5.3 Các loại hành vi phạm tội?
Hành vi phạm tội được chia thành hành vi hành hộng hoặc hành vi không hành động
- Hành vi phạm tội thực hiện bằng hành động của cá nhân, tổ chức gây thiệt hại nghiêm trọng xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác, gây rối loạn trật tự xã hội. Ví dụ như hành động giết người, cướp giật tài sản, hiếp dâm, lây truyền dịch bệnh,…
- Hành vi phạm tội thể hiện thông qua việc các cá nhân, tổ chức không thực hiện hành động ví dụ làm ngơ, không tố giác tội phạm, không cứu người đang gặp nguy hiểm đến tính mạng… gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích của người khác và xâm phạm đến lợi ích chung gây rối loạn trật tự xã hội thì vẫn được xác định là hành vi phạm tội.