Trả lời:

Đã có một thời kỳ có nhận thức cho rằng, cứ hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế thì di sản chuyển thành tài sản chung của những người thừa kế. Đây là nhận thức không đúng vì nếu nhận thức như vậy thì quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế không còn cần thiết nữa.

Di sản cũng là tài sản chung nhưng là tài sản chung đặc biệt. Tính đặc biệt ấy thể hiện ở một số điểm sau:

-    Tài sản chung thường được hình thành theo ý chí của các đồng chủ sở hữu, còn di sản hình thành từ sự kiện mở thừa kế của người có quan hệ thừa kế với các đồng thừa kế, không phụ thuộc vào ý chí của các đổng thừa kế. Người cha chết thì phát sinh quyền thừa kế của các con với tài sản của người cha để lại, không phụ thuộc vào mong muốn của các con.

-   Do việc thụ động trở thành đồng thừa kế nên việc quản lý di sản thừa kế cũng thụ động, không quản lý chủ động như các chủ sở hữu chung với tài sản chung.

-   Các đồng thừa kế còn có quyền từ chối không nhận di sản vì còn liên quan đến các nghĩa vụ tài sản.

-   Các đồng thừa kế là các chủ sở hữu chung có quan hệ thân thích đặc biệt nên thời hiệu khởi kiện dành cho quan hệ thừa kế dài hơn các quan hệ tranh chấp tài sản chung khác.

-   Quyền thừa kế là quyền phát sinh thụ động, còn mang tính tạm thời, sẽ lại mất quyền sau một thời hạn nhất định (hết thời hiệu khởi kiện) chứ không tồn tại ổn định như quyển sở hữu chung.

Di sản là một loại tài sản chung đặc biệt và thường được chuyển thành tài sản chung thông thường. Có thể ví dụ một trường hợp điển hình về chuyển di sản thành tài sản chung như sau:

Ông A là chủ sở hữu ngôi nhà N. Nhà này là tài sản riêng của ông A. Vợ chồng ông A bà B có 03 người con là X, Y, z. Ngày 15/01/2002, ông A chết. Ngày 10/5/2003, bà B cùng 03 người con làm thủ tục đăng ký thừa kế. Ngày 15/6/2003, bà B cùng 03 người con được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu ngôi nhà N. Như vậy, từ ngày 15/6/2003, ngôi nhà N đã chuyển từ di sản của ông A thành tài sản chung của bà B và 03 con. Sau ngày 15/6/2003, nếu bà B và các con có tranh chấp về ngôi nhà này thì là vụ án tranh chấp tài sản chung chứ không còn là tranh chấp thừa kế. Và đương nhiên không thể áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế cũng như các quy định của pháp luật thừa kế nữa.

Đó là trường hợp dĩ sản chuyển thành tài sản chung điển hình, có sự thống nhất ý chí của các đồng thừa kế với chứng nhận của cấp có thẩm quyển. Trong thực tế còn có nhiều hình thức chuyển di sản thành tài sản chung. Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao đã quy định về 02 trường hợp được coi là chuyển di sản thành tài sản chung, cụ thể là:

-   Trường hợp 1: Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mồ thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế thì di sản đó chuyển thành tài sản chung. Như vậy, đây là trường hợp các đồng thừa kế có văn bản xác nhận họ là chủ sở hữu chung đối với tài sản (chỉ có họ là đồng thừa kế), và văn bản này phải được lập trong thời hạn khởi kiện về quyền thừa kế. Có đủ điều kiện nêu trên thì kể từ ngày ký văn bản, di sản chuyển thành tài sản chung, không đòi hỏi phải có xác nhận của cấp có thẩm quyền hay sang tên chủ sở hữu tài sản. Quy định này là để khắc phục cho thực tế các quy định về thủ tục khai nhận thừa kế, đăng ký tài sản còn chưa dễ dàng cho người dân tiếp cận.

-    Trường hợp 2: Sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Đây là trường hợp không có văn bản nhưng khi xảy ra tranh chấp thì tất cả đương sự đều thừa nhận là tài sản chung, họ chỉ yêu cầu chia tài sản chung chứ không tranh chấp về tính chất của tài sản. Họ đều đã thừa nhận là tài sản chung thì việc xem xét có phải tài sản chung hay không là không cần thiết hoặc cho rằng hết thời hiệu chia thừa kế để không giải quyết là vô lý.

Như vậy, giao dịch chuyên di sản thành tài sản chung là giao dịch thông thường, phổ biến. Di sản có thể được chia thành tài sản riêng, có thể chuyển thành tài sản chung dưới nhiều hình thức. Ngoài hình thức điển hình được lập thành văn bản, có sự kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền như đã nêu ở trên thì còn nhiều hình thức khác. Vì vậy, vấn đề di sản chuyển thành tài sản chung là vấn đề tồn tại thường xuyên và vĩnh cửu cũng giống như sự xuất hiện của di sản.

Khi di sản chuyển thành tài sản chung thì hậu quả pháp lý sẽ khác. Khi không còn là di sản thì tranh chấp về tài sản ấy không còn là vụ án thừa kế, không thể áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế cũng như các quy định khác về thừa kế. Thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện của tranh chấp thừa kế tính từ thời điểm mở thừa kế nhưng thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện tranh chấp tài sản chung là thời điểm biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (khoản 1 Điều 154 Bộ luật dân sự năm 2015). Nhận biết thời điểm chuyển tù di sản thành tài sản chung có ý nghĩa pháp lý quan trọng để áp dụng các quy định về tài sản chung, trong đó có quy định về thời hiệu khởi kiện tranh chấp tài sản chung.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến việc chia tài sản thừa kế, vui lòng liên hệ trực tiếp: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)