- 1. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả
- 2. TPP có quy định gì về tiêu chuẩn bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan?
- 3. TPP có quy định gì đối với các hành vi làm cơ sở để vi phạm quyền tác giả và các quyền liên quan?
- 4. TPP có yêu cầu gì về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp?
- 5. Các yêu cầu của TPP về thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ?
1. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả
Bảo hộ quyền tác giả là Tổng hợp chế định pháp lý nhằm bảo hộ bằng pháp luật quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm đối với toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
Bảo hộ quyền tác giả nhằm hướng tới một cộng đồng tôn trọng “tài sản trí tuệ” và chỉ có ý nghĩa nếu người sáng tạo thực sự được tôn trọng các quyền về mặt tinh thần, quyền về mặt kinh tế, được hưởng các lợi ích được khai thác từ chính tác phẩm của mình.
Bảo hộ quyền tác giả là công cụ hữu hiệu nhất nhằm khuyến khích, làm giàu và phổ biến di sản văn hoá quốc gia và văn hoá của nhân loại.
Để tạo điều kiện cho công dân phát huy được tài năng trong việc sáng tạo những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có giá trị, Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ đều có những quy định nhằm giải phóng mọi năng lực sáng tạo trí tuệ của mỗi cá nhân. Các quyền nhân thân và các quyền tài sản của tác giả, của chủ thể quyền liên quan và của chủ sở hữu quyền tác gỉa ở Việt Nam được pháp luật bảo đảm thực hiện.
2. TPP có quy định gì về tiêu chuẩn bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan?
Chương SHTT là một trong những Chương gây nhiều tranh cãi và cũng khó khăn nhất trong đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Các cam kết trong Chương này có thể được xếp vào 04 nhóm chủ yếu.
Liên quan tới việc bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan, có thể kể ra một số cam kết trong TPP đáng chú ý sau:
- Về phạm vi quyền của chủ sở hữu và các ngoại lệ: TPP bảo hộ quyền độc quyền của tác giả, người biểu diễn, người sản xuất trong việc cho phép hoặc cấm sao chép, truyền đạt tới công chúng, phân phối và phát sóng các tác phẩm của mình.
Một điểm được nhấn mạnh trong TPP là quyền của các chủ thể này đối với cùng một tác phẩm là ngang nhau, không ai được ưu tiên hơn ai. Như vậy, trường hợp một tác phẩm thuộc quyền của cả tác giả, người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm/ghi hình thì việc sử dụng tác phẩm này có thể phải được sự cho phép của tất cả các chủ thể này.
Tuy nhiên, TPP cũng đồng thời yêu cầu các nước Thành viên phải đảm bảo một sự cân đối nhất định giữa quyền của chủ sở hữu với các mục tiêu công cộng khác (các ngoại lệ). Vì vậy, các ngoại lệ đối với các quyền tác giả và quyền liên quan có thể được áp dụng theo cách thức và điều kiện thích hợp (sử dụng một phần hoặc toàn bộ tác phẩm nhằm phục vụ cho các hoạt động như phân tích, bình luận, báo cáo, giảng dạy, nghiên cứu, tạo điều kiện để người khuyết tật tiếp cận tác phẩm,…)
- Về thời hạn bảo hộ: Theo cam kết trong TPP, đối với trường hợp chủ sở hữu quyền là cá nhân, thời hạn bảo hộ là cả cuộc đời cá nhân đó cộng thêm 70 năm kể từ ngày chết (riêng Việt Nam chỉ phải thực hiện cam kết này sau 5 năm kể từ ngày TPP có hiệu lực). Đối với trường hợp không phải cá nhân, thời hạn bảo hộ là 70 năm kể từ thời điểm công bố lần đầu tác phẩm; nếu tác phẩm không được không bố trong vòng 25 năm kể từ ngày được tạo ra thì thời hạn này là 70 năm kể từ ngày tác phẩm được tạo ra.
* Lưu ý với doanh nghiệp: Việc TPP gia hạn thời gian bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan thêm 20 năm so với pháp luật hiện hành đồng nghĩa với việc các chủ thể quyền được kéo dài thêm các lợi ích liên quan tới các tác phẩm của mình 20 năm nữa (đối với trường hợp chủ thể quyền không phải cá nhân, gia hạn thêm 20 năm tức là thời gian được bảo hộ tăng lên tới 40% so với trước đây). Đối với các tác giả và doanh nghiệp chủ sở hữu quyền, đây là cam kết mang đến lợi ích đáng kể. Đối với các trường hợp sử dụng các tác phẩm, sản phẩm giải trí, kiến thức khoa học, công nghệ, giáo dục… được bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan, sẽ phải đợi thêm 20 năm để có thể tiếp cận miễn phí các sản phẩm này.
3. TPP có quy định gì đối với các hành vi làm cơ sở để vi phạm quyền tác giả và các quyền liên quan?
Liên quan tới quyền tác giả và các quyền liên quan, TPP có các cam kết nhằm bảo vệ các quyền này thông qua việc ngăn chặn các hành vi làm tiền đề/công cụ cho việc xâm phạm các quyền này (ví dụ hành vi phá, dỡ, vô hiệu hóa các công nghệ bảo vệ - technological protection measures - TPM; hành vi xâm phạm thông tin quản lý quyền – rights management information - RMI). Nói cách khác, không chỉ các quyền tác giả và quyền liên quan được bảo hộ mà các công nghệ được sử dụng để bảo vệ các sản phẩm này và các thông tin về quyền tác giả/quyền liên quan ghi sẵn trên sản phẩm cũng sẽ được bảo hộ ở mức độ cao trước các hành vi vi phạm.
Cụ thể, TPP yêu cầu các nước Thành viên:
- Phải có các biện pháp xử lý hình sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với các hành vi cố ý phá mã, hoặc tạo ra, nhập khẩu, phân phối, chào bán hoặc cho thuê các phương pháp, công cụ, phần mềm để phá mã các sản phẩm đã được chủ sở hữu quyền khóa mã để hạn chế sử dụng và bảo vệ quyền SHTT (TPM) nhằm mục đích thương mại hoặc thu lợi. Các quy định về biện pháp hình sự và bồi thường thiệt hại trong TPP (trừ quy định về các chủ thể được hưởng ngoại lệ) cũng áp dụng đối với các hành vi dỡ bỏ hoặc làm thay đổi các thông tin về quyền SHTT – các RMI (ví dụ thông tin về tác giả, về bản quyền, về điều kiện sử dụng,..).
- Trường hợp như nêu ở trên nhưng không phải nhằm mục đích thương mại hay thu lợi thì mặc dù không bắt buộc phải áp dụng biện pháp hình sự nhưng vẫn phải bồi thường thiệt hại.
- Ngoại lệ: TPP ghi nhận các trường hợp ngoại lệ không phải chịu các biện pháp xử lý hình sự (ví dụ các thư viện, bảo tàng, viện lưu trữ, cơ sở đào tạo, cơ sở truyền thông công cộng phi lợi nhuận), thậm chí các cơ sở này có thể không phải chịu cả các biện pháp bồi thường thiệt hại nếu họ thực hiện các hành vi này một cách ngay tình và không biết là chúng bị cấm.
* Lưu ý với doanh nghiệp: Quy định về biện pháp xử lý bắt buộc với các hành vi cố ý phá mã, hoặc tạo ra, nhập khẩu, phân phối, chào bán hoặc cho thuê các phương pháp, công cụ, phần mềm để phá mã các sản phẩm đã được chủ sở hữu quyền khóa mã để hạn chế sử dụng và bảo vệ quyền SHTT (TPM) hay hành vi dỡ bỏ hoặc làm thay đổi các thông tin về quyền SHTT là quy định đáng chú ý trong TPP so với pháp luật hiện hành của Việt Nam. Cụ thể, việc xử lý sẽ không chỉ dừng lại ở việc phạt hành chính như hiện hành mà còn có cả bồi thường thiệt hại, thậm chí xử lý hình sự. Vì vậy, có thể nói với TPP, các hành vi vi phạm này sẽ bị xử lý nghiêm khắc hơn nhiều so với hiện tại.
4. TPP có yêu cầu gì về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp?
TPP yêu cầu các nước Thành viên phải bảo hộ đầy đủ và hiệu quả kiểu dáng công nghiệp, bao gồm cả các kiểu dáng được thể hiện ở một phần của sản phẩm hoạc một phần của một sản phẩm nằm trong tổng thể toàn bộ sản phẩm, nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ quy định của WTO về vấn đề này. Ngoài ra, TPP cũng khuyến khích các nỗ lực tăng cường bảo hộ kiểu dáng công nghiệp và cải thiện chất lượng và hiệu quả của cơ chế đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp.
* Lưu ý với doanh nghiệp: Pháp luật Việt Nam hiện mới quy định chung về đối tượng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp, theo đó “kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm”, mà không quy định rõ về việc bảo hộ riêng kiểu dáng của một bộ phận nhìn thấy được của sản phẩm. Do đó, để thực hiện TPP, sắp tới các quy định của pháp luật nội địa về kiểu dáng công nghiệp sẽ phải được điều chỉnh để chi tiết hơn về vấn đề này. Điều này sẽ giúp tăng cường việc bảo vệ quyền các doanh nghiệp có sản phẩm đã đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp trước các hiện tượng nhái một phần, một bộ phận kiểu dáng của sản phẩm đã đăng ký, gây nhẫm lẫn cho người tiêu dùng vốn khá phổ biến hiện nay.
5. Các yêu cầu của TPP về thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ?
Một trong những nội dung đáng lưu ý về SHTT trong TPP là vấn đề thực thi bảo hộ các quyền SHTT. Đây là vấn đề được cho là khá lơi lỏng trong WTO và nhiều FTA trước đây và bị thắt chặt trong Hiệp định này.
Cụ thể, TPP đặt ra các yêu cầu mới, chi tiết về 05 nhóm vấn đề liên quan tới thực thi bảo hộ quyền SHTT sau:
(i) Các cam kết về nguyên tắc chung liên quan tới thực thi quyền SHTT Nhóm này bao gồm các nguyên tắc chung liên quan tới việc thực thi như phải thiết lập hệ thống pháp luật về các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm SHTT hay phải đảm bảo triển khai các biện pháp thực thi một cách công bằng, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém, không tạo ra rào cản đối với thương mại và có cách thức để hạn chế lạm dụng. Tuy nhiên, các nước TPP vẫn có quyền tự chủ trong việc xác định cách thức thực hiện các biện pháp thực thi và bảo hộ quyền SHTT này (theo hệ thống riêng hay dùng hệ thống tố tụng chung).
(ii) Các cam kết cụ thể liên quan thủ tục thực thi quyền SHTT Nhóm này bao gồm các cam kết liên quan tới một số vấn đề cụ thể trong thực thi bảo hộ quyền SHTT, ví dụ:
- Yêu cầu chung về công khai, minh bạch TPP yêu cầu rằng các phán quyết/quyết định thực thi về SHTT có giá trị áp dụng chung phải bằng văn bản, nêu rõ các căn cứ thực tế và lập luận pháp lý, phải được công khai cho công chúng,…
- Các biện pháp thực thi SHTT tại biên giới
Các biện pháp thực thi tại biên giới trong TPP ràng buộc trách nhiệm của Nhà nước và chủ thể quyền trong hành động bảo vệ nhãn hiệu thương mại, quyền tác giả và các quyền liên quan tại biên giới, bao gồm:
+ Phải cho phép các chủ thể quyền được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tại biên giới (ví dụ cơ quan hải quan) dừng thông quan, thu giữ sản phẩm nghi ngờ vi phạm và phải có thủ tục với thời hạn hợp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét xác định hàng hóa bị nghi ngờ có thực sự vi phạm SHTT không;
+ Chủ thể yêu cầu đình chỉ thông quan hoặc thu giữ sản phẩm nghi ngờ vi phạm phải cung cấp bằng chứng chứng minh thích hợp và các thông tin mà chủ thể này phải biết để giúp cơ quan có thẩm quyền xác định/nhận diện được sản phẩm vi phạm, phải nộp một khoản tiền bảo đảm/bảo chứng đủ để bảo vệ bên bị ngăn chặn và cơ quan có thẩm quyền,…;
+ Các cơ quan có thẩm quyền tại biên giới phải có thẩm quyền tự khởi xướng các biện pháp thực thi tại biên giới đối với hàng hóa nhập khẩu (không có lộ trình riêng cho Việt Nam), hàng hóa xuất khẩu (lộ trình thực hiện của Việt Nam là 3 năm), hàng hóa quá cảnh (lộ trình 2 năm) nghi ngờ có vi phạm; quyền ra kết luận vi phạm và xử lý tiêu hủy sản phẩm vi phạm kể cả đối với các lô hàng nhỏ (chỉ không bắt buộc đối với trường hợp hành lý phi thương mại của hành khách).
- Yêu cầu về biện pháp xử lý vi phạm theo thủ tục dân sự/hành chính:
TPP quy định một số các nguyên tắc cụ thể liên quan tới thủ tục tố tụng hành chính hoặc tư pháp để bảo vệ quyền SHTT. Ví dụ:
+ Chủ sở hữu quyền phải được phép kiện ra Tòa để yêu cầu thi hành các quyền SHTT;
+ Các Tòa án phải có quyền yêu cầu chủ thể bị cáo buộc vi phạm phải cung cấp thông tin/bằng chứng vi phạm mà họ đang kiểm soát cho chủ thể quyền hoặc Tòa án; quyền ban hành các lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn hàng hóa vi phạm SHTT đưa vào lưu thông thương mại và quyết định buộc bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu,…;
+ Phải có những quy định cụ thể liên quan tới việc bồi thường thiệt hại cho chủ sở thể quyền (cách thức xác định các mức bồi thường, các hình thức bồi thường có thể áp dụng,…)
+ Phải tuân thủ một số quy tắc tố tụng dân sự/hành chính riêng đối với nhãn hiệu thương mại, quyền tác giả và các quyền liên quan, ví dụ: quy tắc suy đoán về quyền (người có tên trên sản phẩm được suy đoán là chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan; nhãn hiệu thương mại đã đăng ký được suy đoán là có giá trị pháp lý,…) quy tắc về tính toán mức thiệt hại phải bồi thường (trong đó đáng chú ý là mức bồi thường phải bao gồm cả lợi nhuận mà bên vi phạm thu được từ việc vi phạm); quy tắc bắt buộc tiêu hủy sản phẩm vi phạm mà không có bồi thường nếu chủ sở hữu quyền có yêu cầu,…
- Các biện pháp xử lý vi phạm theo thủ tục hình sự TPP đưa ra các yêu cầu cụ thể về các trường hợp vi phạm SHTT bắt buộc phải xử lý hình sự cùng với các điều kiện kèm theo. Đây là cam kết được coi là có tính cứng rắn nhất nhằm thực thi bảo hộ các quyền SHTT trong các FTA từ trước tới nay.
* Lưu ý với doanh nghiệp: Mặc dù các tiêu chuẩn bảo hộ SHTT trong pháp luật Việt Nam thời gian qua cơ bản đã phù hợp với Hiệp định TRIPS của WTO, và do đó khá tương đồng với mặt bằng chung về bảo hộ SHTT trên thế giới, vấn đề thực thi bảo hộ các quyền này trên thực tế còn nhiều bất cập. Nguyên nhân có thể là do các cơ chế thực thi chưa đủ mạnh để ngăn chặn, phát hiện hành vi vi phạm, các biện pháp bồi thường chưa đủ lớn để khuyến khích chủ sở hữu quyền tự bảo vệ quyền, hoặc các biện pháp xử lý vi phạm chưa đủ nghiêm khắc,…
Thực tế này cũng khiến cho hiện tượng vi phạm SHTT đôi khi phổ biến, và các chủ thể vi phạm SHTT ít quan tâm tới hệ quả của các hành vi vi phạm.
Khi TPP có hiệu lực, hệ thống pháp luật về thực thi SHTT của Việt Nam sẽ buộc phải thay đổi theo các cam kết trong TPP, với nhiều yêu cầu chi tiết về cơ chế, cách thức, các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình thực thi,… Do đó, doanh nghiệp và người dân sử dụng các sản phẩm SHTT cần thay đổi hành vi tương ứng, để tránh việc vi phạm và phải chịu các biện pháp xử phạt nghiêm khắc về SHTT.