Mặc dù di chúc miệng có nhiều ưu điểm, như tính linh hoạt và nhanh chóng, nhưng cũng đi kèm với những rủi ro, như dễ xảy ra tranh chấp và khả năng bị hủy bỏ nếu không đáp ứng đủ điều kiện pháp lý. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về di chúc miệng, các điều kiện cần có để di chúc miệng có hiệu lực và các vấn đề pháp lý liên quan. Từ đó, bạn sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về việc lập di chúc miệng, cũng như tầm quan trọng của nó trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân và người thân.

1. Di chúc miệng là gì?

Di chúc miệng là hình thức người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng bằng lời nói để định đoạt tài sản của mình sau khi qua đời. Theo khoản 1 Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015, một người chỉ được lập di chúc miệng khi tính mạng bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản.

Ví dụ, một người bị tai nạn nghiêm trọng, tính mạng bị đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản có thể bày tỏ nguyện vọng phân chia tài sản trước mặt những người làm chứng. Trong trường hợp này, lời nói thể hiện ý chí cuối cùng có thể được xem xét là di chúc miệng nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật quy định.

Điểm khác biệt giữa di chúc miệng và di chúc bằng văn bản nằm ở hình thức thể hiện ý chí của người để lại di sản. Theo Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Quy định này xác định di chúc miệng là hình thức được áp dụng trong hoàn cảnh đặc biệt, không phải là lựa chọn để thay thế cho di chúc bằng văn bản.

Ưu điểm và hạn chế của di chúc miệng là gì?

Di chúc miệng giúp người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng trong tình huống khẩn cấp khi không thể lập di chúc bằng văn bản. Tuy nhiên, hình thức này có yêu cầu chặt chẽ về thủ tục và tiềm ẩn rủi ro tranh chấp.

Về ưu điểm, di chúc miệng cho phép người lập di chúc bày tỏ nguyện vọng phân chia tài sản kịp thời trong hoàn cảnh tính mạng bị đe dọa. Trong khi hạn chế của di chúc miệng là khó chứng minh chính xác ý chí nếu việc ghi nhận không đầy đủ; phải tuân thủ các điều kiện pháp luật và có thể mặc nhiên bị hủy bỏ sau 03 tháng nếu người lập di chúc còn sống.

Như vậy, hoàn cảnh lập di chúc là căn cứ đầu tiên để xác định một trường hợp có thể áp dụng hình thức di chúc miệng. Để được công nhận hợp pháp, di chúc còn phải đáp ứng các điều kiện cụ thể về người lập di chúc, người làm chứng và thủ tục lập di chúc theo quy định pháp luật.

2. Điều kiện để di chúc miệng có hiệu lực ?

Di chúc miệng chỉ hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Bộ luật Dân sự 2015. Khi toàn bộ thủ tục được tuân thủ, di chúc sẽ phát sinh hiệu lực ngay khi người lập di chúc qua đời.

Các điều kiện cụ thể gồm:

Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt và tự nguyện: Theo điểm a khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, một trong những điều kiện để di chúc hợp pháp là người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.

Đối với di chúc miệng, điều kiện này cần được xem xét tại thời điểm người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng. Việc tính mạng đang bị đe dọa không đồng nghĩa người đó mất khả năng nhận thức hoặc không thể tự quyết định việc định đoạt tài sản.

Về độ tuổi, khoản 2 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải lập di chúc thành văn bản và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Di chúc miệng phải có ít nhất hai người làm chứng: Theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, người lập di chúc phải thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng. Những người làm chứng phải có mặt khi ý chí cuối cùng được thể hiện và đáp ứng điều kiện theo Điều 632 của Bộ luật này.

Cụ thể, những người sau đây không được làm chứng cho việc lập di chúc:

  • Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
  • Người có quyền hoặc nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc.
  • Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Do đó, khi xác định di chúc miệng có hợp pháp hay không, cần kiểm tra cả số lượng và tư cách của người làm chứng.

Người làm chứng phải ghi chép và xác nhận di chúc đúng thời hạn: Khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trình tự ghi nhận ý chí cuối cùng của người lập di chúc miệng như sau:

  • Ghi chép nội dung di chúc: Ngay sau khi người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, những người làm chứng phải ghi chép lại nội dung đó.
  • Ký tên hoặc điểm chỉ: Những người làm chứng phải cùng ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản ghi chép.
  • Xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận.

Đây là những yêu cầu về hình thức và trình tự lập di chúc miệng. Nếu chỉ có lời khai của người làm chứng mà không thực hiện các thủ tục theo quy định, di chúc có thể không đáp ứng điều kiện để được công nhận hợp pháp.

Nội dung di chúc phải hợp pháp và tài sản thuộc quyền định đoạt của người lập di chúc: Theo điểm b khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, nội dung di chúc không được vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. Đồng thời, người lập di chúc chỉ có thể định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc phần quyền tài sản mà mình có quyền định đoạt theo quy định pháp luật.

Ví dụ, đối với tài sản chung của vợ chồng, một người không được mặc nhiên định đoạt toàn bộ tài sản chung như tài sản riêng của mình. Người đó chỉ được định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình theo quy định pháp luật.

Di chúc miệng có thể bị hủy bỏ sau 03 tháng: Theo khoản 2 Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015, sau 03 tháng kể từ thời điểm lập di chúc miệng, nếu người lập di chúc còn sống, minh mẫn và sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Quy định này nhằm giới hạn thời gian tồn tại của di chúc miệng, bởi đây là hình thức lập di chúc dành cho hoàn cảnh tính mạng bị cái chết đe dọa và người lập di chúc không thể lập di chúc bằng văn bản. Nếu người đó vẫn sống và minh mẫn, sáng suốt sau thời hạn nêu trên thì di chúc miệng không còn giá trị, kể cả khi trước đó đã đáp ứng các điều kiện về người làm chứng và thủ tục xác nhận.

Trường hợp di chúc miệng không có hiệu lực, bị vô hiệu trước pháp luật?

Di chúc miệng có thể không được công nhận hợp pháp nếu không đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 629, Điều 630 và Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015. Các trường hợp cần lưu ý gồm:

  • Không đủ điều kiện lập di chúc miệng: Tính mạng người lập di chúc không bị cái chết đe dọa hoặc người đó vẫn có thể lập di chúc bằng văn bản theo khoản 1 Điều 629.
  • Không đáp ứng điều kiện về người lập di chúc: Người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt hoặc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; nội dung di chúc vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội theo khoản 1 Điều 630.
  • Không bảo đảm điều kiện về người làm chứng và thủ tục: Không có đủ hai người làm chứng hợp lệ, không ghi chép, ký tên hoặc điểm chỉ đúng quy định, hoặc không thực hiện việc xác nhận trong thời hạn 05 ngày làm việc theo khoản 5 Điều 630 và Điều 632.
  • Di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ: Theo khoản 2 Điều 629, sau 03 tháng kể từ thời điểm lập di chúc, nếu người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Khi xem xét một di chúc miệng cụ thể, cần đối chiếu từng điều kiện với tình tiết và chứng cứ liên quan để xác định di chúc không hợp pháp ngay từ đầu hay đã mặc nhiên bị hủy bỏ theo thời hạn luật định.

Di chúc miệng không có hiệu lực thì di sản được chia như thế nào?

Khi di chúc miệng không hợp pháp hoặc đã mặc nhiên bị hủy bỏ, di sản có thể được chia theo pháp luật nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong các trường hợp như không có di chúc; di chúc không hợp pháp; hoặc người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản hoặc không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế theo các điều kiện luật định.

Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người thừa kế theo pháp luật được xác định theo thứ tự hàng thừa kế:

  • Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết.
  • Hàng thừa kế thứ hai: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
  • Hàng thừa kế thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; cháu ruột mà người chết là bác, chú, cậu, cô, dì; chắt ruột mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản theo quy định pháp luật.

Lưu ý: Nếu di chúc miệng không hợp pháp, cần xem xét phạm vi di sản và các căn cứ thừa kế liên quan để xác định phần tài sản được chia theo pháp luật. Trường hợp người chết còn có di chúc khác hợp pháp hoặc chỉ một phần nội dung định đoạt không có hiệu lực, việc phân chia di sản phải được xác định theo tình trạng pháp lý cụ thể, không mặc nhiên áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản.

3. Di chúc ghi âm, ghi hình có được công nhận như di chúc miệng không?

Bản ghi âm hoặc ghi hình lời trăn trối không mặc nhiên được công nhận là di chúc miệng hợp pháp. Theo Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc được lập bằng văn bản; nếu không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng theo Điều 629. Để được công nhận hợp pháp, di chúc miệng phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật này.

Có thể phân biệt hai trường hợp như sau:

Tiêu chí

Di chúc miệng

Bản ghi âm, ghi hình

Hình thức thể hiện

Người lập di chúc trực tiếp nói lên ý chí cuối cùng

Ý chí được ghi lại bằng âm thanh hoặc hình ảnh

Điều kiện lập

Tính mạng bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản

Việc ghi âm, ghi hình tự nó không tạo thành một hình thức di chúc độc lập

Người làm chứng

Phải có ít nhất hai người làm chứng theo khoản 5 Điều 630

Bản ghi âm, ghi hình không thay thế yêu cầu về người làm chứng đối với di chúc miệng

Thủ tục xác nhận

Phải ghi chép lại ý chí cuối cùng, cùng ký tên hoặc điểm chỉ và thực hiện xác nhận trong thời hạn 05 ngày làm việc

Chỉ có tệp ghi âm hoặc video không thay thế thủ tục luật định

Giá trị pháp lý

Có thể được công nhận nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật

Có thể được xem xét làm tài liệu, chứng cứ tùy vụ việc, nhưng không tự động được công nhận là di chúc hợp pháp

Ví dụ: Ông A bị tai nạn nghiêm trọng và ghi hình lời trăn trối để lại căn nhà cho con trai. Nếu gia đình chỉ lưu giữ video mà không thực hiện việc lập di chúc miệng theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, video đó không đủ để mặc nhiên được công nhận là di chúc miệng hợp pháp.

Ngược lại, nếu ông A thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng, những người này ghi chép lại nội dung, cùng ký tên hoặc điểm chỉ và thực hiện thủ tục xác nhận theo luật định, thì di chúc miệng có thể được công nhận hợp pháp nếu đáp ứng các điều kiện còn lại. Video ghi lại sự việc, nếu có, chỉ là tài liệu bổ trợ để xem xét, không thay thế các điều kiện bắt buộc.

Như vậy, điểm phân biệt quan trọng không nằm ở việc có ghi âm hoặc ghi hình hay không, mà ở việc hình thức và thủ tục lập di chúc có đáp ứng quy định pháp luật hay không. Khi xảy ra tranh chấp, giá trị của bản ghi âm, ghi hình cần được đánh giá cùng các chứng cứ khác và không thể mặc nhiên coi là di chúc hợp pháp.

4. Quy trình lập di chúc miệng như thế nào theo quy định pháp luật?

Để lập di chúc miệng hợp pháp, người lập di chúc và người làm chứng cần thực hiện đúng trình tự quy định tại Điều 629, khoản 5 Điều 630 và Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015. Quy trình gồm ba bước chính: thể hiện ý chí cuối cùng trước người làm chứng, ghi chép và ký xác nhận nội dung, sau đó thực hiện thủ tục chứng thực theo thời hạn luật định.

Bước 1. Thể hiện ý chí cuối cùng trước người làm chứng

Di chúc miệng chỉ được lập khi tính mạng người lập di chúc bị cái chết đe dọa và người đó không thể lập di chúc bằng văn bản theo khoản 1 Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong hoàn cảnh này, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Người đó thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng đáp ứng điều kiện tại Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Khi trình bày nguyện vọng, người lập di chúc nên nêu rõ tài sản muốn định đoạt và người được hưởng tài sản để những người làm chứng có thể ghi nhận chính xác ý chí của mình.

Bước 2. Ghi chép nội dung di chúc và ký tên hoặc điểm chỉ

Ngay sau khi người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, những người làm chứng phải ghi chép lại nội dung di chúc. Sau đó, những người làm chứng cùng ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản ghi chép theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nội dung ghi chép cần phản ánh trung thực ý chí của người lập di chúc, đặc biệt là thông tin về người được hưởng di sản và tài sản được định đoạt. Pháp luật không quy định bắt buộc phải sử dụng một mẫu văn bản riêng có tên "Biên bản ghi nhận di chúc miệng".

Bước 3. Thực hiện thủ tục xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Người làm chứng cần chủ động liên hệ tổ chức hành nghề công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực để thực hiện thủ tục. Khi liên hệ, nên mang theo văn bản ghi chép nội dung di chúc và giấy tờ cần thiết để phục vụ việc xác nhận.

Lưu ý sau khi lập di chúc miệng:

  • Về thời hạn: Theo khoản 2 Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015, sau 03 tháng kể từ thời điểm lập di chúc miệng, nếu người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
  • Về ghi âm, ghi hình: Gia đình có thể ghi âm hoặc ghi hình quá trình thể hiện ý chí cuối cùng để lưu giữ thông tin, hỗ trợ đối chiếu khi cần thiết. Tuy nhiên, đây không phải thủ tục bắt buộc và không thay thế việc ghi chép, ký tên hoặc điểm chỉ, xác nhận theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Về người làm chứng: Cần kiểm tra điều kiện của người làm chứng theo Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 để hạn chế rủi ro di chúc không được công nhận hợp pháp.

Như vậy, trình tự quan trọng nhất là ghi nhận đúng ý chí cuối cùng của người lập di chúc, hoàn thành văn bản ghi chép ngay sau đó và thực hiện xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ trong thời hạn 05 ngày làm việc. Việc tuân thủ đầy đủ trình tự này là một trong những căn cứ để xem xét tính hợp pháp của di chúc miệng.

Dịch vụ Luật sư soạn thảo di chúc, tư vấn pháp luật thừa kế, gọi: 0986.11.66.05 

Mẫu biên bản ghi chép di chúc miệng và hướng dẫn cách lập

Khi lập di chúc miệng, người làm chứng phải ghi chép lại ý chí cuối cùng của người lập di chúc ngay sau khi người đó thể hiện ý chí, sau đó cùng ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản ghi chép. Theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng.

Dưới đây là mẫu biên bản ghi chép nội dung di chúc miệng mang tính tham khảo, được xây dựng để hỗ trợ người làm chứng ghi nhận ý chí của người để lại di sản. Đây không phải mẫu biểu bắt buộc do pháp luật ban hành.

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------

 

DI CHÚC MIỆNG

(V/v: Biên bản ghi nhận nội dung di chúc miệng) 

Hôm nay, vào lúc ..... giờ ..... phút, ngày ..... tháng ..... năm ....... Tại địa điểm: ......... 

I. NGƯỜI LẬP DI CHÚC MIỆNG:

- Họ và tên: ..................................................... Sinh ngày: ...../...../.........

- CCCD số: .......................... cấp ngày ...../...../......... tại ........................

- Nơi đăng ký HKTT: ............................................................................... 

- Chỗ ở hiện tại: ..................................................................................... 

- Tình trạng sức khỏe/Lý do lập di chúc miệng: (Ví dụ: Đang trong tình trạng nguy cấp do bệnh nặng/tai nạn, không thể viết di chúc bằng văn bản nhưng tinh thần hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt).

II. NGƯỜI LÀM CHỨNG (Tối thiểu 02 người):

1. Ông/Bà: ...................................................... Sinh ngày: ...../...../.........

- CCCD số: .......................... cấp ngày ...../...../......... tại ........................

- Trú tại: ....................................................................................................

2. Ông/Bà: ...................................................... Sinh ngày: ...../...../.........

- CCCD số: .......................... cấp ngày ...../...../......... tại ........................

- Trú tại: ....................................................................................................

(Các người làm chứng cam đoan không thuộc các trường hợp bị cấm làm chứng theo Điều 635 Bộ luật Dân sự 2015).

III. NỘI DUNG DI CHÚC MIỆNG:

Trước sự chứng kiến trực tiếp và đầy đủ của các người làm chứng nêu trên, Ông/Bà ..................................... đã thể hiện ý chí cuối cùng về việc định đoạt tài sản sau khi chết như sau:

1. Về tài sản định đoạt:

- Tờ bản đồ/Quyền sử dụng đất/Căn nhà tại: .........................................................

- Xe/Sổ tiết kiệm/Tài sản khác: .............................................................................

2. Phân chia tài sản:

- Để lại tài sản (mô tả cụ thể) ........................................ cho Ông/Bà: ........................................ (Sinh năm: ......, CCCD số: .........................).

- Nghĩa vụ/Điều kiện kèm theo (nếu có): ................................................................

IV. CAM KẾT VÀ XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG:

Chúng tôi cam kết toàn bộ nội dung nêu trên được ghi chép trung thực, chính xác theo đúng ý chí mà Ông/Bà ..................................... đã phát biểu trực tiếp. Biên bản được đọc lại cho tất cả những người có mặt cùng nghe, hiểu rõ và thống nhất ký tên/điểm chỉ dưới đây. Biên bản này được lập thành ..... bản có giá trị pháp lý như nhau để phục vụ thủ tục công chứng/chứng thực trong thời hạn 05 ngày làm việc theo quy định pháp luật.

NGƯỜI LÀM CHỨNG 1 

(Ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ)

 

NGƯỜI LÀM CHỨNG 2

(Ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ) 

 

Lưu ý: Ngay sau khi xác lập biên bản ghi nhận nội dung di chúc miệng trên, cần người làm chứng phải mang văn bản này đến Văn phòng công chứng hoặc UBND cấp xã/phường để xác nhận chữ ký người làm chứng (thời gian chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày lập)

Lưu ý khi sử dụng mẫu

  • Ghi chép ngay sau khi người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng: Nội dung phải phản ánh trung thực ý chí đã được thể hiện, không tự ý bổ sung hoặc thay đổi nguyện vọng của người lập di chúc.
  • Kiểm tra điều kiện của người làm chứng: Người làm chứng phải đáp ứng Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015; không thuộc các trường hợp bị pháp luật loại trừ.
  • Thực hiện thủ tục xác nhận đúng thời hạn: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận.
  • Không coi mẫu biên bản là căn cứ duy nhất xác định hiệu lực: Việc sử dụng mẫu này không thay thế các điều kiện về hoàn cảnh lập di chúc, sự minh mẫn, tự nguyện và các yêu cầu pháp luật khác.

Thời hạn 05 ngày làm việc được tính từ ngày người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, không phải từ ngày người làm chứng hoàn tất biên bản. Nếu có tranh chấp, tính hợp pháp của di chúc phải được xem xét trên cơ sở toàn bộ tình tiết và chứng cứ liên quan.

5. Một số câu hỏi thường gặp về điều kiện để di chúc miệng có hiệu lực

Di chúc miệng có hợp pháp không? Được lập khi nào?

Có. Di chúc miệng được pháp luật công nhận nếu đáp ứng các điều kiện tại Điều 629 và khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, đồng thời tuân thủ các quy định liên quan về tính hợp pháp của di chúc.

Theo khoản 1 Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015, người lập di chúc chỉ được lập di chúc miệng khi tính mạng bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản. Ngoài ra, di chúc phải được lập trước mặt ít nhất hai người làm chứng, được ghi chép lại ngay sau khi người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng và thực hiện thủ tục xác nhận theo thời hạn luật định.

Di chúc ghi âm, ghi hình bằng video có hiệu lực không?

Bản ghi âm hoặc video đơn thuần không phải là một hình thức di chúc độc lập được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định. Theo Điều 627, di chúc được lập bằng văn bản; nếu không thể lập bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng theo Điều 629.

Đối với di chúc miệng, khoản 5 Điều 630 yêu cầu có ít nhất hai người làm chứng, ghi chép lại ý chí cuối cùng, cùng ký tên hoặc điểm chỉ và thực hiện thủ tục xác nhận trong thời hạn 05 ngày làm việc. Vì vậy, việc chỉ ghi âm hoặc quay video mà không đáp ứng các điều kiện này không đủ để được công nhận là di chúc miệng hợp pháp.

Bản ghi âm hoặc video có thể được xem xét như tài liệu, chứng cứ tùy từng vụ việc, nhưng không tự động thay thế các điều kiện về hình thức và thủ tục lập di chúc.

Di chúc miệng có hợp pháp không? Được lập di chúc miệng khi nào?

Có, Di chúc miệng được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các quy định  tại Điều 629 và Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015.

Di chúc miệng chỉ được phép áp dụng trong hoàn cảnh khẩn cấp khi tính mạng bị đe dọa trực tiếp và hoàn toàn không thể lập di chúc bằng văn bản. Hơn nữa, ngay cả khi được phép lập trong hoàn cảnh này, di chúc miệng vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục về số lượng người làm chứng, việc ghi chép lại và việc đưa đi chứng thực trong vòng 05 ngày làm việc theo quy định tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015.

Di chúc ghi âm, ghi hình bằng video có hiệu lực không?

Không, Di chúc chỉ được ghi âm, ghi hình bằng video không có hiệu lực như một di chúc độc lập. Video hay tệp ghi âm chỉ có giá trị là chứng cứ hỗ trợ khi việc lập di chúc đáp ứng đầy đủ hình thức và thủ tục do luật định. Theo Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015 (Hình thức của di chúc): Pháp luật Việt Nam chỉ ghi nhận 02 hình thức di chúc là Di chúc bằng văn bản và Di chúc miệng. Video/Ghi âm không thuộc hình thức di chúc được công nhận độc lập. Đồng thời Điều 629 & Khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015: Di chúc miệng (ngôn ngữ nói) chỉ hợp pháp khi người lập bị tính mạng đe dọa, có ít nhất 02 người làm chứng, được người làm chứng ghi chép lại, ký tên/điểm chỉ và phải được công chứng/chứng thực trong vòng 05 ngày làm việc.

Do vậy, nếu chỉ quay video mà không lập văn bản ghi nhận và công chứng/chứng thực theo đúng quy trình trên thì di chúc không có hiệu lực pháp luật.

Di chúc miệng và di chúc bằng văn bản có giá trị pháp lý như nhau không?

Di chúc miệng và di chúc bằng văn bản đều có thể được công nhận hợp pháp nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Tuy nhiên, hai hình thức này có sự khác biệt về điều kiện lập, thủ tục xác nhận và thời hạn tồn tại.

Di chúc miệng chỉ được lập trong trường hợp tính mạng bị cái chết đe dọa và người lập không thể lập di chúc bằng văn bản. Đặc biệt, theo khoản 2 Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ sau 03 tháng nếu người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt.

Vì vậy, khi có điều kiện lập di chúc bằng văn bản, người có tài sản nên cân nhắc hình thức này để thuận tiện cho việc lưu giữ, chứng minh ý chí và hạn chế tranh chấp về sau.

Người làm chứng khi lập di chúc miệng phải đáp ứng điều kiện gì?

Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015, người làm chứng không được thuộc các trường hợp sau:

  • Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
  • Người có quyền hoặc nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc.
  • Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Ngoài ra, khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 yêu cầu phải có ít nhất hai người làm chứng. Những người này phải ghi chép lại ý chí cuối cùng của người lập di chúc ngay sau khi người đó thể hiện ý chí, cùng ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản ghi chép và thực hiện thủ tục xác nhận theo thời hạn luật định.

Do đó, khi lập di chúc miệng, cần lựa chọn người làm chứng đáp ứng điều kiện pháp luật và có khả năng ghi nhận chính xác nội dung ý chí của người để lại di sản.

Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có được lập di chúc miệng?

Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không mặc nhiên mất quyền lập di chúc. Tuy nhiên, việc có thể lập di chúc miệng hay không còn phụ thuộc vào điều kiện tại thời điểm lập di chúc và các yêu cầu riêng đối với hình thức này.

Theo Điều 625 và điểm a khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, người lập di chúc phải đáp ứng điều kiện về chủ thể và minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cần được phân biệt với người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Đối với di chúc miệng, ngoài việc xem xét tình trạng nhận thức và ý chí tự nguyện, người lập di chúc còn phải đáp ứng điều kiện tại khoản 1 Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015: tính mạng bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản.

Vì vậy, không thể chỉ dựa vào quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự để kết luận di chúc miệng hợp pháp hoặc không hợp pháp. Cần xem xét tình trạng thực tế của người lập di chúc, hoàn cảnh lập di chúc và việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật.

Bởi vì: Căn cứ theo Điều 24 (Hạn chế năng lực hành vi dân sự); Điều 625 (Người lập di chúc) và Điều 630 (Di chúc hợp pháp) của BLDS 2015 thì: Người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự (do nghiện ma túy/chất kích thích) hoàn toàn khác với người bị mất năng lực hành vi dân sự (do bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không nhận thức được) hay người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

  • Về nhận thức: Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chỉ bị hạn chế một số giao dịch tài sản do hành vi nghiện ngập, nhưng tại thời điểm lập di chúc, nếu họ vẫn hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt và nhận thức rõ hành vi của mình thì họ vẫn đáp ứng điều kiện về chủ thể quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 BLDS 2015.
  • Về sự đồng ý của người đại diện: Khoản 2 Điều 24 BLDS 2015 quy định việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật (trừ giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày).

Tuy nhiên, di chúc là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí cá nhân nhằm định đoạt tài sản sau khi chết:

  • Trường hợp lập di chúc bằng văn bản: Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mình lập di chúc nếu đáp ứng sự minh mẫn, sáng suốt. Dù vậy, để tránh rủi ro di chúc bị tranh chấp hoặc bị tuyên vô hiệu sau này, thực tiễn công chứng/chứng thực thường yêu cầu hoặc có sự tham gia/xác nhận từ người đại diện theo pháp luật hoặc có giám định y khoa tại thời điểm lập.
  • Trường hợp lập di chúc miệng: Di chúc miệng chỉ được áp dụng khi tính mạng bị đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản (khoản 1 Điều 629 BLDS 2015).

Ví dụ: Ông A (45 tuổi) bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự do nghiện chất kích thích và phá tán tài sản, con trai ông A được chỉ định làm người đại diện. Tuy nhiên, ông A có một căn nhà là tài sản riêng.

Trong thời gian điều trị và tinh thần hoàn toàn minh mẫn, ông A muốn lập di chúc định đoạt căn nhà cho các con. Do ông A là người thành niên và hoàn toàn nhận thức được ý chí của mình tại thời điểm lập, ông A vẫn có quyền tự mình lập di chúc. Khi thực hiện thủ tục công chứng, Công chứng viên sẽ yêu cầu kiểm tra/xác minh năng lực hành vi (tính minh mẫn) của ông A tại thời điểm ký để đảm bảo tính pháp lý.

Do vậy, quyền lập di chúc miệng có thể thực hiện được nếu đáp dứng được điều kiện trước khi lập di chúc, nên có giấy xác nhận chuyên khoa thần kinh/y tế chứng minh người lập di chúc đang trong trạng thái minh mẫn, sáng suốt. Đồng thời đáp dứng được các điều kiện khác về người làm chứng và thời chứng thực di chúc (05 ngày làm việc) kể từ ngày lập.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến di chúc miệng hãy liên hệ ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật về thừa kế, di chúc trực tuyến.

Trân trọng cảm ơn!