1. Hiệu lực của di chúc miệng theo quy định ?

Kính gửi! Luật sư Công ty Luật Minh Khuê, tôi có một số thắc mắc mong được Luật sư giải đáp. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì di chúc miệng phải tuân thủ những điều kiện nào, có hiệu lực kể từ thời điểm nào ?

Rất mong sớm nhận được hồi âm từ các chuyên gia. Xin trân trọng cảm ơn và kính chúc sức khỏe!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Căn cứ theo Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015:

"Điều 627. Hình thức của di chúc

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng."

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 thì di chúc bao gồm di chúc lập thành văn và di chúc miệng. Di chúc miệng được lập trong "trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ" (Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015).

Trong trường hợp lập bằng di chúc miệng, tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về điều kiện để di chúc miệng được coi là hợp pháp để chuyển giao tài sản của người lập di chúc miệng cho người khác, cụ thể như sau:

"di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng"

Theo đó, người chết để lại di chúc miệng không thỏa mãn điều kiện tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 thì di chúc miệng mà người chết để lại không có hiệu lực. Lúc này tài sản của họ sẽ được phân chia thừa kế theo pháp luật theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Con nuôi chưa đăng ký có được hưởng di sản thừa kế ? Cách chia thừa kế như thế nào ?

2. Cách lập di chúc hợp pháp chia tài sản cho con ?

Xin luật sư tư vấn giúp tôi việc này. Bố tôi có 2 đời vợ: vợ trước có 2 chị gái,1 anh trai nhưng anh trai đã mất và mẹ tôi có tôi (con trai) và 1 em gái. Sau khi bố tôi mất năm 1999 thì căn nhà chỉ còn mẹ tôi, tôi và em gái ở. Lúc làm sổ đỏ mẹ tôi có để 3 tên mẹ tôi, tôi và em gái trong đấy. Năm 2004, tôi lập gia đình đến nay đã có 3 cháu. Năm 2010 em gái tôi đi lấy chồng và ở với gia đình chồng.

Nay tôi phát hiện tôi không sống được bao lâu nữa mà mẹ tôi và vợ tôi không hợp nhau. Hay nói khó nghe hơn là mẹ tôi ghét và muốn từ vợ tôi mặc dù với tôi bà vẫn bình thường. Tôi sợ sau này tôi không còn sống nữa mẹ tôi sẽ đẩy vợ tôi ra đường tay trắng. Tôi xin hỏi là:

1 - Liệu tôi có quyền di chúc phần tôi được hưởng trong căn nhà đấy cho vợ và con tôi không?

2 - Sau khi tôi chết liệu mẹ tôi có thể bỏ tôi ra khỏi sổ đỏ và di chúc cho em tôi toàn bộ căn nhà không?

3 - Liệu khi mẹ tôi biết tôi vắn số nhưng tôi chưa chết mẹ tôi lập bản di chúc thì di chúc của tôi có còn hiệu lực không?

4 - Nếu tôi được làm di chúc thì phải làm như thế nào cho đúng pháp luật?

Xin luật sư tư vấn giúp vì tôi nghĩ tôi không còn nhiều thời gian mà tôi muốn đỡ đần vợ tôi nuôi con sau này. Xin chân thành cảm ơn luật sư đã bớt thời gian đọc thư này.

Tư vấn về lập di chúc ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin mà bạn cung cấp, trong sổ đỏ có tên bạn, mẹ bạn và em gái bạn. Theo đó, cả ba người là người đồng sở hữu quyền sử dụng đất. Và quyền sử dụng đất đó là tài sản chung của cả ba người.

Khoản 1 Điều 179 Luật đất đai năm 2013 số 45/2013/QH13 quy định quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất:

"1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức; đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;

b) Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác;

c) Chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;

d) Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất;

đ) Cá nhân sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Trường hợp người được thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó;

e) Tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Luật này; tặng cho quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này;

g) Thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật;

h) Góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh;

i) Trường hợp đất thuộc diện thu hồi để thực hiện dự án thì có quyền tự đầu tư trên đất hoặc cho chủ đầu tư dự án thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất với chủ đầu tư dự án để thực hiện dự án theo quy định của Chính phủ".

Theo đó, bạn có quyền lập di chúc để lại phần bạn được hưởng trong căn nhà đấy cho vợ và con bạn.

Sau khi bạn chết, bạn đã lập di chúc để lại tài sản, phần bạn được hưởng trong căn nhà đó cho vợ và con bạn. Theo đó, vợ và con bạn có quyền hưởng phần di sản mà bạn để lại cho bạn và con. Do đó, mẹ bạn không thể để tên bạn ra khỏi sổ đỏ và di chúc cho em bạn toàn bộ căn nhà. Vì trước đó, khi đi đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mẹ bạn đã để tên mẹ bạn, bạn và em gái bạn, chính vì vậy, cả ba người đều là chủ sở hữu căn nhà đó. Khi muốn đăng ký thay đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cần phải có đầy đủ sự đồng ý của các thành viên, đồng chủ sở hữu trong giấy chứng nhận đó. Sau khi bạn mất, vợ, con bạn sẽ được thay bạn thực hiện quyền trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này, do đó, khi muốn đăng ký biến động thực hiện đối với trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận thì vợ và con bạn có quyền đồng ý hoặc không đồng ý việc thay đổi biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, mẹ bạn không có quyền để tên bạn ra khỏi sổ đỏ (lúc này là vợ và con bạn) khi không có sự đồng ý của vợ và con bạn.

Trường hợp, khi mẹ bạn biết bạn vắn số nhưng bạn chưa chết mẹ bạn lập bản di chúc thì di chúc của bạn có còn hiệu lực không?

Điều 625. Người lập di chúc

1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Như vậy, khi bạn chưa chết, nhưng bạn đã lập di chúc, mẹ của bạn cũng lập di chúc trước khi chết. Cả hai người đều có quyền lập di chúc, do đó, cho dù mẹ bạn lập di chúc thì di chúc của bạn vẫn có hiệu lực pháp luật vì chỉ cần là người đã thành niên, người này không bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì người này có quyền lập di chúc theo Bộ luật dân sự.

Cách thức, trình tự để lập di chúc đúng pháp luật theo Chương XXII của Bộ luật dân sự năm 2015 như sau: Về hình thức của di chúc:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.

Di chúc bằng văn bản bao gồm:

1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

3. Di chúc bằng văn bản có công chứng;

4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ.

Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: Thứ nhất, người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; Thứ hai, nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Trong trường hợp, di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định như trên. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Trong phần nội dung của di chúc cần phải ghi rõ:

- Ngày, tháng, năm lập di chúc;

- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

- Di sản để lại và nơi có di sản;

- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

Lưu ý: Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trong trường hợp bạn không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Bạn phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. Việc lập đi chúc trong trường hợp này phải tuân thủ điều kiện di chúc có hiệu lực như đã phân tích ở trên. Trong đó, mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những trường hợp sau: Một là, người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc. Hai là, người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc. Ba là, người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Đất đã tặng cho có được mang ra chia thừa kế không ? Thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất ?

3. Để lại di chúc như thế nào là hợp pháp ?

Thưa luật sư, Tôi có một vấn đề mong được giúp đỡ. Ông bà nội tôi có 5 người con : 2 trai , 3 gái bố tôi là con trưởng nên sống cùng nhà ông bà mấy chục năm qua. Bà nội tôi đã mất 3 năm nay. Các cô và chú tôi đã có gia đình và ở riêng. nhưng trong thời gian sống ông nội tôi và bố tôi không hợp nhau nên ông chuyển sang nhà chú tôi ở nhưng sổ hộ khẩu và bìa đất vẫn ở nhà tôi do ông tôi đứng tên. Nay ông tôi đòi viết di chúc để lại toàn bộ tài sản đất đai và ngôi nhà mà tôi và bố mẹ tôi đang ở cho chú tôi.
Vậy tôi muốn hỏi ông tôi làm như vậy có đúng không và di chúc như vậy có hợp pháp không?
Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

Điều 160, Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"2. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.​"

Điều 199 Hạn chế quyền định đoạt:

"1. Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do pháp luật quy định.

2. Khi tài sản đem bán là di tích lịch sử, văn hoá thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua.

Trong trường hợp pháp nhân, cá nhân, chủ thể khác có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó."

Điều 609, bộ luật dân sự 2015 quy định:

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Điều 648. Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản

Căn cứ vào quy định trên thì nếu toàn bộ diện tích đất và nhà là tài sản riêng của ông nội bạn thì ông hoàn toàn có quyền để lại thừa kế cho chú bạn mà không bị hạn chế quyền định đoạt.

Tuy nhiên, nếu toàn bộ diện tích đất và ngôi nhà không phải là tài sản riêng của ông nội bạn mà là tài sản chung của ông nội và bà nội bạn trong thời kì hôn nhân thì không bạn chỉ được định đoạt 1/2 giá trị tài sản. Phần tài sản còn lại do bà nội bạn mất mà không để lại di chúc nên sẽ tiến hành chia thừa kế theo pháp luật.

Việc thừa kế theo pháp luật được quy định tại điều 676, bộ luật dân sự 2005 như sau:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Những ai là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc ? Cách chia tài sản thừa kế

4. Thừa kế theo di chúc ?

Xin kính chào luật Minh Khuê, em có một thắc mắc xin được tư vấn: Năm 1990, ông An kết hôn với bà Ngọc có 2 con chung, 1 người tên Hùng (1991), 1 người tên Thúy (1998). Đến 2008, ông An lập di chúc (hợp pháp) để lại phần di sản của mình trong căn nhà mua năm 1995 cho cô B (hàng xóm) được thừa hưởng. Đến năm 2009 ông An chết. Hãy chia phần di sản thừa kế của ông An theo hiểu biết của mình. (Căn nhà có giá trị tại thời điểm chia thừa kế là 1 tỷ. Cha mẹ ông An đã chết trước ông An. Hùng đã từng bị kết án 1 năm tù về tội cố ý gây thương tích đối với ông An).
Xin giúp nhanh giùm em ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn ạ.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Di chúc hợp pháp nên cô B được hưởng di sản của ông An.

Tuy nhiên điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc.

Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

Vào thời điểm mở thừa kế (năm 2009) chỉ có Thúy chưa thành niên và Ngọc là vợ ông An được hưởng thừa kế theo pháp luật với mức bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn lập di chúc, phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Quyền thừa kế theo di chúc ?

Chào luật sư! Tôi có câu hỏi mong luật sư giải đáp như sau: Có phải tất cả những người có tên trong di chúc đều được hưởng di sản thừa kế không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: N.V.T

Quyền thừa kế theo di chúc?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để những người có tên trong di chúc được hưởng thừa kế, cần phải có điều kiện về di chúc và điều kiện về người thừa kế.

- Về di chúc hợp pháp, Điều 652 Bộ luật dân sự 2005 có quy định.

"Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực."

- Về người thừa kế, theo Điều 635 Bộ luật dân sự 2005 quy định về người thừa kế thì:

"Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế." .

Như vậy, người có tên trong di chúc được hưởng thừa kế theo di chúc khi người chết có di chúc để lại và di chúc đó hợp pháp, những người có tên trong di chúc có đủ điều kiện nhận di sản thừa kế theo di chúc và họ không từ chối nhận di sản đó.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công​ ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phân chia di sản khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế ? Quyền bán tài sản được thừa kế ?