1. Hiểu như thế nào về lợi ích quốc gia, dân tộc?
Dân tộc là cộng đồng xã hội - tộc người tương đối ổn định, bền vững, được thành lập trong lịch sử, bao gồm những cá nhân, nhóm, tập đoàn, cộng đồng người… có quan hệ cộng đồng thường xuyên, trực tiếp về các mặt: ngôn ngữ, lãnh thổ, không gian kinh tế và sinh hoạt kinh tế, nhà nước và pháp luật, bản sắc văn hóa, tâm lý tính cách, do đó có quan hệ cộng đồng về những lợi ích có tính lịch sử, những lợi ích dân tộc. Lợi ích dân tộc là một trong những yếu tố cơ bản nhất, là cơ sở và động lực của sự phát triển của các dân tộc.
Khái niệm lợi ích dân tộc có nội hàm rộng, bao hàm trong đó tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia dân tộc có chủ quyền, thống nhất, độc lập, lãnh thổ toàn vẹn; cho sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp quốc gia, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia dân tộc. Các dân tộc trên thế giới đều coi lợi ích căn bản nhất của dân tộc là Tổ quốc độc lập, thống nhất, giàu mạnh, lãnh thổ toàn vẹn (bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa), nhân dân làm chủ đối với Tổ quốc mình.
Trong lợi ích dân tộc có những nhân tố thuộc về tự nhiên được cộng đồng sở hữu: đất đai, sông hồ, biển đảo, khí hậu, tài nguyên, vị trí địa lý,... và có những điều kiện xã hội: truyền thống tốt đẹp, độc lập, thống nhất, dân tộc đoàn kết, các quan hệ xã hội ở trong nước và những quan hệ quốc tế tích cực... Những điều kiện tự nhiên và xã hội đó, xét đến cùng, đều do cộng đồng dân tộc tạo lập, giữ gìn bằng mồ hôi, nước mắt và máu xương của nhiều thế hệ. Lợi ích dân tộc không phải những mong muốn, áp đặt chủ quan mà là những yếu tố, quan hệ khách quan hình thành trong lịch sử cần được nhận thức và xử lý đúng đắn.
Lợi ích dân tộc không bất biến mà thay đổi theo hoàn cảnh cụ thể. Có những yếu tố mang giá trị lâu dài, vĩnh cửu. Có những yếu tố chỉ tồn tại trong giai đoạn nhất định. Trong mỗi thời kỳ tồn tại, phát triển của dân tộc, có một hoặc một số vấn đề nổi bật lên. Trong thời kỳ đất nước bị ngoại xâm thì lợi ích tối cao của dân tộc là giải trừ nạn ngoại xâm, đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong bối cảnh dân tộc đứng trước xu thế tất yếu của một cuộc cách mạng xã hội, giải phóng nhân dân khỏi cảnh áp bức, tối tăm của chế độ xã hội đã lỗi thời, đồng thời mở đường cho đất nước phát triển đi lên, thì lợi ích cách mạng chính là lợi ích cao nhất, trực tiếp nhất của dân tộc. Đối với các nước đang phát triển, chậm phát triển, lợi ích giải phóng xã hội (bao hàm giải phóng sức sản xuất) và lợi ích giải phóng dân tộc gắn bó chặt chẽ với nhau. Nếu vấn đề giải phóng dân tộc chưa được giải quyết căn bản thì lợi ích giải phóng dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Vấn đề độc lập dân tộc đã căn bản được giải quyết thì lợi ích dân tộc thể hiện tập trung ở nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa đi đôi với từng bước xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
2. Bản chất của lợi ích quốc gia, dân tộc
Trong lợi ích dân tộc có những yếu tố mang tính giai cấp. Chủ quyền quốc gia được thể hiện thông qua nhà nước dân tộc. Nhà nước, luật pháp, những quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội trong xã hội có giai cấp không thể không mang tính chất giai cấp. Xét trên tổng thể, lợi ích dân tộc trong mỗi thời đại lịch sử đều gắn với một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Từ xã hội loài người phân chia thành các giai cấp cho đến nay, các hình thái kinh tế - xã hội đều dựa trên một quan hệ sản xuất là cơ sở cho một kết cấu giai cấp nhất định, trong đó có “giai cấp dân tộc”.
Lịch sử chứng minh rằng, do địa vị, lợi ích khác nhau nên thái độ xử lý vấn đề lợi ích dân tộc của các giai cấp, các chính đảng... không giống nhau, nhất là khi lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp, lợi ích phe nhóm mâu thuẫn nhau. Không ít trường hợp khi Tổ quốc lâm nguy, giai cấp thống trị phản động đã từ bỏ lợi ích dân tộc cơ bản để cứu vãn địa vị giai cấp. Năm 1870, thủ đô Paris của nước Pháp bị quân Phổ bao vây. Lúc đó lợi ích quốc gia đòi hỏi giới cầm quyền tập trung mọi lực lượng của dân tộc để tổ chức kháng chiến. Nhưng chính phủ Chie của giai cấp tư sản, vốn tự xưng là “chính phủ quốc phòng”, đã chọn con đường hy sinh lợi ích dân tộc để tập trung đối phó với phong trào công nhân. Trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp,C.Mác viết: “Trong khi phải chọn giữa hai điều: nghĩa vụ dân tộc và lợi ích giai cấp thì chính phủ quốc phòng đã không hề do dự một phút nào mà biến ngay thành một chính phủ phản quốc”(1).
Quan niệm của giới cầm quyền và nhân dân về bản chất của lợi ích dân tộc không phải khi nào cũng giống nhau. Ở Việt Nam, dưới thời chế độ phong kiến đang lên, các anh hùng dân tộc vĩ đại phần lớn xuất thân từ tầng lớp quý tộc cầm quyền. Đó là các vị vua sáng, tôi hiền, danh tướng lỗi lạc như: Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông... đã kết hợp hài hòa giữa lợi ích giai cấp, lợi ích giới cầm quyền với lợi ích dân tộc. Khi quốc gia hữu sự, các vị đã đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Nhưng đến nửa cuối thế kỷ XVIII, trong bối cảnh chế độ phong kiến suy tàn, giai cấp phong kiến không còn đại diện cho lợi ích dân tộc nữa, giới vua chúa, triều đình phong kiến hoặc bất lực không bảo vệ được lợi ích dân tộc, hoặc vì quyền lợi riêng mà bán rẻ lợi ích dân tộc. Khi lâm vào bước đường cùng trong cuộc giao tranh với Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã toàn quyền đem lợi ích dân tộc của Đại Việt ra thương thảo với Pháp quốc để cầu xin viện trợ, ký với Pháp Hiệp ước 1787, nhường cho Pháp cửa Hội An, đảo Côn Lôn và độc quyền buôn bán. Đây là bước mở đầu cho thời kỳ Pháp xâm lược nước ta.
Như vậy, sự phức tạp của vấn đề lợi ích dân tộc thực chất là vấn đề quan hệ giữa lợi ích của các quốc gia trên trường quốc tế. Sau chiến tranh lạnh, quan hệ quốc tế có mặt tốt lên, song nói chung phức tạp hơn, thể hiện ở mâu thuẫn, xung đột về mặt lợi ích dân tộc rất gay gắt.
3. Mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích cá nhân
Các lợi ích dân tộc chính đáng, chân chính tự bản thân chúng không đối lập nhau. Lợi ích chính đáng của một dân tộc (hay một nhóm dân tộc) tự nó không gây tổn hại nghiêm trọng đối với lợi ích chính đáng của cả dân tộc hay các dân tộc khác. Lợi ích dân tộc chính đáng trong thế giới văn minh thường được xác định trong luật pháp quốc gia và phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế, được công luận đồng tình. Trên thực tế, không phải tất cả những gì mà các chính phủ tuyên bố là “lợi ích quốc gia” đều là lợi ích dân tộc chính đáng. Vấn đề ở chỗ, luật pháp của một quốc gia có thể chỉ là quan điểm đơn phương của quốc gia đó nên nó không thể là căn cứ duy nhất để giải quyết mâu thuẫn về quyền lợi dân tộc. Luật pháp quốc tế một mặt phản ánh ý nguyện của các dân tộc, phản ánh kết quả đấu tranh của các dân tộc yêu độc lập, tự do, hòa bình, công lý. Nhưng mặt khác, luật pháp quốc tế phản ánh tương quan lực lượng trên trường quốc tế mà tương quan này không phải bao giờ cũng có lợi cho các dân tộc đang đấu tranh cho độc lập, dân chủ, công bằng, bình đẳng.
Lợi ích căn bản của dân tộc Việt Nam hiện nay là thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ấm no, tự do, hạnh phúc. Thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam góp phần tích cực vào xây dựng một thế giới của các dân tộc sống trong hòa bình, độc lập, tự do và phát triển bền vững.
4. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết”
Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết. Quan điểm này là nguyên tắc tối cao trong quá trình lãnh đạo cách mạng và là một trong những nguyên nhân đưa đến thành công của cách mạng Việt Nam.
Trên bước đường ra đi tìm đường cứu nước, chính tinh thần dân tộc và lợi ích dân tộc là yếu tố chủ đạo trong tư tưởng cách mạng của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Việc tìm và lựa chọn con đường cứu nước của Người không chỉ là thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của người dân với Tổ quốc, mà còn là gánh vác trọng trách, sứ mệnh thực hiện khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc. Trong quá trình bôn ba khắp năm châu, bốn biển, Nguyễn Ái Quốc luôn khẳng định: “Vì tự do cho đồng bào tôi”(2), độc lập cho Tổ quốc tôi là vấn đề đầu tiên, trước tiên của cách mạng. Có thể nói, chủ trương giải phóng dân tộc là một tư tưởng lớn của Người, khẳng định sự nhạy bén về mặt chính trị và bản lĩnh của người cách mạng. Ở Nguyễn Ái Quốc, những phẩm chất tinh túy, tốt đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và chủ nghĩa cộng sản đã được kết tụ và hòa quyện chặt chẽ. Từ đây, con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đồng bào của Nguyễn Ái Quốc đã được đúc kết: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(3).
Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc xác định ngay từ đầu, trong quá trình vận động thành lập Đảng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh để giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Khi trở về nước lãnh đạo cách mạng, chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 (tháng 5-1941), một lần nữa vấn đề lợi ích dân tộc được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc luận giải: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(3). Đặc biệt, khi thời cơ giành độc lập đến, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”(4), quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc.
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, của tầm nhìn đổi mới và phương pháp cách mạng của Người trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa như Việt Nam. Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một chân lý: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(5). Có thể khẳng định, quan điểm đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, lấy mục tiêu độc lập dân tộc là hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn hợp quy luật, hợp lô-gíc phát triển của lịch sử cũng như truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là khát khao cháy bỏng, nguyện vọng chính đáng của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Quan điểm “đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là đấu tranh giải phóng và bảo vệ nền độc lập của dân tộc mà còn hướng tới lợi ích của nhân dân. Yêu nước, thương dân là mối quan hệ biện chứng, là dòng tư tưởng lớn nhất và xuyên suốt tư duy và hành động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với Người, không có lòng yêu nước chung chung, trừu tượng. Yêu nước chính là yêu nhân dân, là đem lại độc lập, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(6). Trong các tác phẩm, bài nói chuyện của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến vấn đề “lợi ích” và nhất quán quan điểm lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, của Đảng, của nhân dân là thống nhất: “lợi ích của nhân dân tức là lợi ích của Đảng và phải đặt lợi ích của nhân dân và của Đảng lên trên hết, trước hết”(7); “Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”(8). Đây cũng chính là giá trị cốt lõi của quan điểm “đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng tới.
Trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; đồng thời, luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên cần nêu cao lợi ích dân tộc và phải có tinh thần dân tộc vững chắc, bởi: “Độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm” đối với mỗi quốc gia dân tộc. Do đó, “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(9). Đây chính là nội hàm của quan điểm “đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết” trong quan hệ đối ngoại mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn cách mạng Việt Nam nhận thức và vận dụng đúng đắn, nhất quán.
5. Lợi ích quốc gia, dân tộc trong quá trình đổi mới
Trong 35 năm đổi mới, lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam là xây dựng đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, bảo vệ sự ổn định của hệ thống chính trị. Đây là nhân tố bất biến trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực không ngừng biến động, các thế lực thù địch thường xuyên có nhiều âm mưu và hành động nhằm thay đổi, chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết không phải là đi theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa dân túy, bỏ qua chủ nghĩa quốc tế vô sản, bỏ qua trách nhiệm quốc tế vì sự tiến bộ và phát triển của tất cả các dân tộc. Vì vậy, trong khi đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, chúng ta đồng thời làm tốt nghĩa vụ quốc tế của mình, là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì độc lập, hòa bình và tiến bộ trên thế giới.
Trong giai đoạn chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng hiện nay, nội hàm của lợi ích quốc gia - dân tộc vẫn không thay đổi. Song, yếu tố phát triển, nhất là phát triển bền vững, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới, được đề cao hơn trước. Đây là khía cạnh mới, ngày càng quan trọng trong tổng thể lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam. Nội hàm của khái niệm lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam hiện nay rộng lớn và phức tạp hơn rất nhiều so với các giai đoạn trước đây. Đó là tổng hòa giữa lợi ích cơ bản và lợi ích phát triển. Lợi ích cơ bản là tiền đề không thể thiếu để hiện thực hóa lợi ích phát triển. Còn lợi ích phát triển sẽ góp phần củng cố vững chắc hơn lợi ích cơ bản.
Do đó, để hiểu đúng, đầy đủ và có thể vận dụng thành công quan điểm “đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần quán triệt sâu sắc quan điểm đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; tăng cường đoàn kết, đặt cái chung lên trên cái riêng là bài học không thể thiếu trong hoạch định, tổ chức và thực hiện trong giai đoạn chiến lược mới.
Danh mục tài liệu tham khảo:
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.17, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.422.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 497
(3) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 113
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 230
(5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 3, 161
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 8, tr. Xiv
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 290
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. Xi