1. Tổng quan về Ngân hàng Chính sách xã hội

Vào ngày 31 tháng 8 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 525-TTg, thành lập Ngân hàng Phục vụ Người nghèo, nhằm hỗ trợ người nghèo vay vốn để phát triển sản xuất và cải thiện cuộc sống, đồng thời đóng góp vào mục tiêu giảm nghèo xoá đói, mà không tập trung vào lợi nhuận. Trách nhiệm điều hành và vận hành của Ngân hàng Phục vụ Người nghèo được ủy thác cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, trong khi Ngân hàng chỉ tham gia việc ban hành chính sách.

Sau bảy năm hoạt động, vào ngày 4 tháng 10 năm 2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, nhằm tách tín dụng chính sách khỏi hoạt động tín dụng thông thường của các ngân hàng thương mại nhà nước. Cùng ngày đó, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội, nhằm cung cấp vay vốn cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Ngân hàng được thành lập với vốn điều lệ ban đầu là 5 nghìn tỷ đồng và được điều chỉnh thêm phù hợp với yêu cầu hoạt động theo từng giai đoạn. Thời hạn hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội là 99 năm.

Ngày 11 tháng 3 năm 2003, Ngân hàng Chính sách xã hội chính thức đi vào hoạt động. Đến ngày 30 tháng 9 năm 2017, tổng nguồn vốn của Ngân hàng đã vượt qua 179.000 tỷ đồng, tăng gấp hơn 25 lần so với khi thành lập. Tổng dư nợ của các chương trình tín dụng chính sách đã đạt hơn 169.000 tỷ đồng, gấp 24 lần so với khi thành lập. Hiện có hơn 6,7 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đang nợ nần. Hơn 31,8 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách khác đã vay vốn từ Ngân hàng, giúp hơn 4,5 triệu hộ vượt qua tình trạng nghèo. Ngoài ra, Ngân hàng cũng nhận ủy thác vốn từ các địa phương với số lượng gần 8.500 tỷ đồng.

Việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội nhằm thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác được thực hiện dựa trên việc tái tổ chức Ngân hàng Phục vụ Người nghèo theo Quyết định số 230/QĐ-NH5, ngày 01 tháng 9 năm 1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng Chính sách xã hội có hệ thống quản lý và điều hành thống nhất trên toàn quốc, là một tổ chức pháp nhân, có vốn điều lệ, con dấu, tài sản và hệ thống giao dịch từ trung ương đến địa phương. Trụ sở chính của Ngân hàng đặt tại Thủ đô Hà Nội. Vốn điều lệ ban đầu của Ngân hàng là 5.000.000.000.000 đồng (năm nghìn tỷ đồng) và được điều chỉnh thêm phù hợp với yêu cầu hoạt động theo từng giai đoạn. Các tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội được quy định trong Quyết định này và Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Chính sách xã hội:

Ngân hàng Chính sách xã hội có cơ cấu tổ chức như sau:

- Hội sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội.

- Chi nhánh đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- Phòng giao dịch đặt tại các huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội cấp huyện và việc thành lập nơi cần thiết được quyết định bởi Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội.

Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội sở chính, Chi nhánh và Phòng giao dịch được quy định bởi Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội.

Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị của Ngân hàng Chính sách xã hội, gồm 12 thành viên, trong đó có 9 thành viên kiêm nhiệm và 3 thành viên chuyên trách. Chủ tịch Hội đồng quản trị là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 8 thành viên còn lại là Thứ trưởng hoặc cấp tương đương Thứ trưởng các Bộ như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc, Văn phòng Chính phủ và Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Còn 3 thành viên chuyên trách gồm 1 ủy viên giữ chức Phó Chủ tịch thường trực, 1 ủy viên giữ chức Tổng giám đốc và 1 ủy viên giữ chức Trưởng Ban Kiểm soát.

Tổng giám đốc là người điều hành hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội và đại diện pháp nhân của Ngân hàng. Tổng giám đốc có một số Phó Tổng giám đốc giúp việc, và việc bổ nhiệm và miễn nhiệm các Phó Tổng giám đốc do Chủ tịch Hội đồng quản trị ký quyết định. Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng giám đốc được thực hiện theo Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội.

3. Hoạt động cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội được quy định như thế nào?

Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện hoạt động cho vay theo quy định Mục II Chương 2 Điều lệ, được ban hành kèm theo Quyết định 16/2003/QĐ-TTg, cụ thể như sau:

3.1. Phạm vi cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội 

Ngân hàng Chính sách xã hội có phạm vi cho vay bao gồm:

- Hộ nghèo.

- Học sinh, sinh viên đang theo học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề, có hoàn cảnh khó khăn.

- Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm theo Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11 tháng 4 năm 1992.

- Các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài.

- Các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất và kinh doanh thuộc hải đảo; thuộc khu vực II, III miền núi; thuộc Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135).

- Các đối tượng khác khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

3.2. Mục đích sử dụng vốn cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội 

Vốn cho vay trong Ngân hàng Chính sách xã hội được sử dụng vào các mục đích sau:

- Đối với hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi và các xã thuộc Chương trình 135, vốn vay được sử dụng để:

  • Mua sắm vật tư, thiết bị, giống cây trồng, vật nuôi, thanh toán các dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh.
  • Góp vốn thực hiện các dự án hợp tác sản xuất, kinh doanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
  • Giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu như nhà ở, điện, nước sạch, học tập.

- Đối với các tổ chức kinh tế thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi và các xã thuộc Chương trình 135, vốn vay được sử dụng cho chi phí sản xuất, kinh doanh theo chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, vốn vay được sử dụng để mua sắm phương tiện học tập và chi phí khác phục vụ cho việc học tập tại trường.

- Đối với người vay là đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài, vốn vay được sử dụng để trả phí đào tạo, phí dịch vụ, tiền đặt cọc và vé máy bay.

- Đối với các đối tượng khác, việc sử dụng vốn vay phụ thuộc vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

- Vốn nhận ủy thác cho vay ưu đãi được sử dụng theo hợp đồng ủy thác.

3.3. Loại cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội 

Các hình thức cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội bao gồm:

- Cho vay ngắn hạn: Đây là các khoản vay có thời hạn không quá 12 tháng.

- Cho vay trung hạn: Đây là các khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng.

- Cho vay dài hạn: Đây là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng.

3.4. Điều kiện vay vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội

Để được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội, các điều kiện bao gồm như sau:

- Người vay phải là hộ nghèo và có địa chỉ cư trú hợp pháp. Họ cũng phải được UBND cấp xã xác định là hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố. Danh sách hộ nghèo này được Tổ tiết kiệm và vay vốn đánh giá và lập thành một danh sách chính thức, được UBND cấp xã xác nhận.

- Người vay cũng có thể là các đối tượng chính sách khác, tuân thủ các quy định của Nhà nước và Nghị định 78/2002/NĐ-CP.

3.5. Nguyên tắc tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội 

Nguyên tắc tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội như sau:

- Người vay phải sử dụng vốn vay đúng mục đích xin vay.

- Người vay phải trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi.

3.6. Uỷ thác cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội

- Đối với việc ủy thác cho vay:

+ Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện việc cho vay bằng cách hợp tác với các tổ chức nhận ủy thác. Những tổ chức này sẽ là người thực hiện việc giải ngân và thu nợ trực tiếp từ Người vay, và được hưởng phí ủy thác;

+ Các tổ chức nhận ủy thác là các tổ chức tín dụng thực hiện việc ủy thác và nhận ủy thác cho vay từ tổ chức tín dụng, tuân thủ theo các quy định hiện hành về ủy thác;

+ Đối với các tổ chức nhận ủy thác, cần đáp ứng các điều kiện sau:

  • Có đội ngũ cán bộ có kiến thức và kinh nghiệm về việc cho vay;
  • Có mạng lưới hoạt động kéo dài đến các vùng nghèo và hộ nghèo;
  • Có uy tín trong cộng đồng, được sự tin tưởng từ Ngân hàng Chính sách xã hội;
  • Có khả năng tổ chức kế toán, thống kê, báo cáo theo các quy định cụ thể của Ngân hàng Chính sách xã hội;

+ Các nội dung, phạm vi, mức độ và phí ủy thác, cùng với quyền và nghĩa vụ của hai bên (ủy thác và nhận ủy thác) sẽ được thể hiện trong hợp đồng ủy thác do hai bên thỏa thuận;

+ Tổng Giám đốc của Ngân hàng Chính sách xã hội và Thủ trưởng của tổ chức nhận ủy thác sẽ là đại diện pháp nhân ký kết hợp đồng ủy thác. Trong trường hợp tổ chức nhận ủy thác là một pháp nhân cấp tỉnh, huyện hoặc xã, thì Giám đốc Chi nhánh của Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh hoặc huyện, hoặc Phòng giao dịch sẽ được ủy quyền ký hợp đồng ủy thác từ Tổng Giám đốc.

- Ở những địa điểm có Chi nhánh của Ngân hàng Chính sách xã hội, việc cho vay sẽ được thực hiện trực tiếp từ Người vay.

- Quy chế về việc ủy thác cho vay, quy chế hoạt động và trả thù lao cho Tổ tiết kiệm và vay vốn sẽ tuân theo các quy định của Hội đồng quản trị trong phạm vi mức phí quản lý được quyết định bởi Thủ tướng Chính phủ.

3.7. Lãi suất cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội

Các quy định về lãi suất cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội được sắp xếp như sau:

- Lãi suất cho vay ưu đãi được quy định theo từng giai đoạn, do Thủ tướng Chính phủ quyết định dựa trên đề xuất của Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội. Mức lãi suất này được thống nhất trên toàn quốc.

Tuy nhiên, các tổ chức kinh tế thuộc các đối tượng được quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 2 của Nghị định 78/2002/NĐ-CP, được Hội đồng quản trị quyết định, có sự phân biệt lãi suất giữa khu vực II và khu vực III. Các đối tượng này bao gồm:

  • Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm, như đã quy định trong Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11 tháng 04 năm 1992.
  • Các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi và thuộc Chương trình Phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa (gọi là Chương trình 135).

- Lãi suất nợ quá hạn được tính là 130% so với lãi suất ban đầu khi cho vay.

3.8. Rủi ro tín dụng và xử lý rủi ro

- Ngân hàng Chính sách xã hội đặt quỹ dự phòng rủi ro tín dụng vào chi phí nghiệp vụ để bù đắp những rủi ro xảy ra do nguyên nhân khách quan thuộc diện cá nhân hoặc cục bộ. Mức trích lập quỹ dự phòng được tính là 0,02% trên số dư nợ trung bình hàng năm. Trường hợp quỹ dự phòng rủi ro tín dụng không được sử dụng hết trong năm, số tiền đó sẽ được chuyển sang năm tiếp theo. Nếu quỹ dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp các rủi ro trong năm, Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ đề xuất giải quyết đến Bộ trưởng Bộ Tài chính.

- Trường hợp Người vay không thể trả nợ do những nguyên nhân khách quan như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, thay đổi chính sách của Nhà nước, biến động giá cả thị trường, sẽ được giải quyết như sau:

  • Trong trường hợp ảnh hưởng rộng lớn, việc giải quyết sẽ tuân theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
  • Trong trường hợp ảnh hưởng cá nhân hoặc cục bộ, Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ gia hạn nợ hoặc xử lý từ quỹ dự phòng rủi ro, theo quyết định của Hội đồng quản trị.

- Những thiệt hại do nguyên nhân chủ quan gây ra bởi Người vay, tổ chức nhận ủy thác, cán bộ và viên chức của Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ phải bồi hoàn và chịu xử lý theo quy định của pháp luật.

3.9. Mức cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội

Các loại đối tượng vay vốn tín dụng ưu đãi sẽ được cấp mức cho vay phù hợp, mức đó được quyết định và công bố bởi Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội dựa trên nhu cầu vay vốn và khả năng huy động nguồn vốn trong từng giai đoạn.

3.10. Thời hạn cho vay, gia hạn nợ, chuyển nợ quá hạn của Ngân hàng Chính sách xã hội

- Thời hạn vay được xác định dựa trên mục đích sử dụng vốn của Người vay và thời gian thu hồi vốn của chương trình hoặc dự án, với sự xem xét đến khả năng thanh toán của Người vay.

- Trong trường hợp Người vay không thể trả nợ đúng kỳ hạn cam kết do lý do thu hoạch chậm, kéo dài so với dự kiến hoặc không thể tiêu thụ sản phẩm, Giám đốc Chi nhánh của Ngân hàng cho vay có thể xem xét gia hạn nợ. Việc gia hạn nợ đối với các tổ chức nhận ủy thác cho vay phụ thuộc vào thỏa thuận ghi trong hợp đồng giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác.

- Trong trường hợp vay theo chu kỳ sản xuất: thời hạn vay sẽ tuân theo chu kỳ sản xuất tiếp theo.

- Trường hợp Người vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích hoặc có khả năng trả nợ đúng hạn nhưng chủ đích không trả, nợ sẽ được chuyển sang trạng thái quá hạn. Tổ chức cho vay sẽ phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội để thu hồi nợ.

- Thời hạn vay, gia hạn nợ, chuyển sang vay theo chu kỳ sản xuất, chuyển sang nợ chờ xử lý, và chuyển nợ quá hạn sẽ tuân theo quy định của Hội đồng quản trị của Ngân hàng Chính sách xã hội.

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Ngân hàng chính sách xã hội là gì ? Mức lãi suất của ngân hàng chính sách xã hội 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Hoạt động cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội được quy định như thế nào? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.