1. Trường hợp chồng, vợ không muốn ly hôn thì xử lý ra sao?
Hỏi: Thưa luật sư! Tôi bị ông chổng đối xử rất tệ bạc và gia trưởng tôi nhiều lần đề nghị ly hôn nhưng anh ta không ký đơn, bởi muốn tôi phải tiếp tục hấu hạ, cung phụng anh ta suốt đời. Anh ta tuyên bố dù tôi có nộp đơn ra Tòa án thì anh ta cũng không đồng ý và phá cho bằng được. Tôi hoang mang không biết Tòa án sẽ xử sao?
Trà lời:
Anh chồng này giống “chồng bát, đĩa”. Bạn hãy tự tin nộp đơn khởi kiện theo hướng dẫn ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN ở trên, Tòa án sẽ căn cứ vào pháp luật để chấp nhận cho ly hôn theo quy định sau:
Luật Hôn nhấn và Gia đình năm 2014, Điều 56 quy định: Tòa ấn giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chổng làm cho hôn nhấn lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhấn không đạt được.
Vậy để Tòa án chấp nhận cho ly hôn, bạn cần chứng minh anh chồng đã vi phạm nghiêm trọng quyền của bạn và anh ta không thực hiện đúng các nghĩa vụ của người chồng. Luật Hôn nhản và Gia đình năm 2014 quy định như sau:
Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau; Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhấn phẩm, uy tín cho nhau; Vợ, chổng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghể nghiệp; học tập, nấng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Với quy định nêu trên vận dụng vào trường hợp chồng bạn gia trưởng áp đặt mọi việc theo ý mình là vi phạm quy định: Vợ, chổng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau vê mọi mặt trong gia đình. Chồng bạn đối xử tệ bạc với bạn là vi phạm: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.
Tương tự như tôi đã phân tích, bạn hãy chứng minh anh ta đã vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đỉnh dẫn đến đời sống vợ chồng trầm trọng. Bạn phải sống trong khổ đau, thiệt thòi nhiều năm và giờ không thể kéo dài thì Tòa án sẽ chấp thuận cho ly hôn.
Bạn lưu ý, anh chồng đã tuyên bố bằng mọi cách sẽ phá không đồng ý ly hôn. Có thể ra tòa anh ta sẽ trở mặt nói rất yêu thương bạn, thể hiện là người chồng tử tế, bác bỏ những điều bạn tố cáo anh ta. Nên bạn cần phải có chứng cứ chứng minh sự thật để anh ta không thể chối cãi.
Ví dụ: có người biết chuyện làm chứng, như: con, anh chị em, bố mẹ, hàng xóm. Hình ảnh, ghi ầm, ghi hình, tin nhắn, văn bản. Khi đã ra tòa thì bạn phải nhớ nguyên tắc “nói có sách - luật, mách có chứng”. Vậy nhé, làm được điều này tôi tin bạn sẽ được “giải thoát khỏi anh chồng tệ bạc”.
2. Trường hợp vợ, chồng khác nơi cư trú Tòa án nào thụ lý đơn ly hôn?
Hỏi: Thưa luật sư! Vợ chổng tôi đăng ký kết hôn và ở Hà Đông, Hà Nội nhưng vợ tôi đã bỏ vê nhà mẹ đẻ hai năm nay và tôi nghe nói cô ấy hiện đang sống và làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh. Vậy giờ tôi muốn ly hôn thì phải nộp đơn tại Tòa án nào?
Trà lời:
Việc xác định Tòa án nào giải quyết việc ly hôn là rất khó khăn trong trường hợp một bên đã bỏ đi sống ở nơi khác hoặc không rõ hiện họ đang sinh sống ở đâu.
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 39 và Điều 40 quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân có thẩm quyên giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
Các đương sự có quyền tự thỏa thuận vôi nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân giải quyết những tranh chấp vê hôn nhàn và gia đình.
Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyên giải quyết.
Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về hôn nhấn và gia đình trong các trường hợp sau đày: Nếu không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyẽt.
Khái niệm nơi cư trú của cá nhấn theo Luật Cư trú năm 2006, Điều 12 quy định như sau:
Nơi cư trú của công dần là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đàng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.
Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dấn theo quy định, thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn.
Với quy định pháp luật về xác định Tòa án đê’ nộp đơn khởi kiện nêu trên. Trước tiên bạn cần liên hệ với vợ để xác định hiện cô đang cư trú ở đâu, giả sử cô đang ở Quận 7, Thành phố Hổ Chí Minh và đã đăng ký tạm trú thì có các lựa chọn như sau:
Một là: Vợ chồng thỏa thuận nộp đơn khởi kiện tại Tòa án Hà Đông nơi bạn đang cư trú.
Hai là: bạn là người nộp đơn khởi kiện (nguyên đơn) phải nộp đơn tại tại Tòa án Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nơi vợ (bị đơn) đang cư trú.
Ba là: nếu vợ chồng có tài sản chung là bất động sản (nhà đất) ở tại Hà Đông cần phân chia thì nộp đơn khởi kiện tại Tòa án Hà Đông.
Trường hợp bạn không thể liên hệ với vợ và không biết hiện cô ta hiện đang cư trú ở đâu thì nộp đơn khởi kiện tại nơi cư trú cuối cùng của vợ là Tòa án Hà Đông nhờ giải quyết. Tuy nhiên, quá trình Tòa án giải quyết vụ việc sẽ gặp khó khăn lớn nếu không liên hệ, không triệu tập được cô vợ. Nên bạn cần tìm mọi cách để liên lạc được với vợ để biết địa chỉ cô đang ở, làm việc thì mới thuận lợi cho việc giải quyết ly hôn.
3. Ly hôn có yếu tố nước ngoài thẩm quyền giải quyết thược Tòa án nào?
Hỏi: Thưa luật sư! Tôi đã lấy chồng Hàn Quốc vỉ tưởng rằng sẽ có cuộc sống sung sướng ở xứ sở giàu sang nay không ngờ khổ nhục hơn nhiều ở Việt Nam nên muốn ly hôn thì phải nộp đơn tại Tòa án nào để giải quyết?
Trà lời:
Có câu thơ rằng: “Chưa đi thì chưa biết Đồ Sơn, đi rồi mới biết chẳng hơn... đổ nhà” hay “Chưa đi chưa biết Bà Nà, đi rồi mới biết ở nhà vẫn hơn”. Chuyện buồn của bạn cũng là chuyện của nhiều người gặp xui xẻo khi lấy chồng ngoại. Cuộc đời ai cũng phải “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”.
Để xác định được Tòa án, quốc gia nào giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, trước hết bạn hãy đọc quy định sau đây theo luật Việt Nam. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Điều 3 và Điều 127 quy định:
Quan hệ hôn nhấn và gia đình có ỵếu tổ nưốc ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nưôc ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nưởc ngoài, giữa người nưổc ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cẩu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.
Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.
Tiếp đó Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điểu 469 và Điều 470 có quy định việc xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam như sau:
Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yẽu tố nưốc ngoài trong những trường hợp sau đây: Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam.
Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam; Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân miổc ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam.
Như đã trích dẫn luật nếu vợ chồng bạn thuộc các trường hợp trên hoặc bạn đang là công dân Việt Nam (có quốc tịch Việt Nam) thì có quyền lựa chọn Tòa án của Việt Nam giải quyết việc ly hôn. Cụ thể bạn nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nơi mình đang cư trú với hai tình huống sau:
Trường hợp 1: hai vợ chồng thuận tình ly hôn thì sẽ nộp đơn tại Tòa án Nhân dân cấp huyện/ quận/ thành phố trực thuộc tỉnh nơi bạn cư trú.
Trường hợp 2: bạn đơn phương ly hôn thì nộp đơn khởi kiện tại Tòa án Nhân dân cấp tỉnh /thành phố trực thuộc trung ương nơi bạn cư trú.
Nếu chưa rõ thế nào là nơi cư trú thì bạn xem ở Câu hỏi 2 nêu trên. Chi tiết về thủ tục thuận tình ly hôn hoặc đơn phương ly hôn, bạn xem lại phần trên tôi đã hướng dẫn.
4. Căn cứ ly hôn là gì?
Căn cứ ly hôn phản ánh bản chất của cuộc hôn nhân tan vỡ. Điều này thể hiện tính chính xác trong việc giải quyết ly hôn dựa trên căn cứ ly hôn và đảm bảo cho việc bảo vệ sự tồn tại, bền vững lâu dài của gia đình. Khi có yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng hay cha, mẹ, người thân thích khác, Tòa án phải tiến hành điều tra và hòa giải. Nếu hòa giải không thành tòa án cần xác định tình trạng quan hệ hôn nhân xem có căn cứ ly hôn không để giải quyết, Tòa án xét xử cho ly hôn chỉ là công nhận một thực tế khách quan là cuộc hôn nhân đó không còn tồn tại nữa.
Việc giải quyết ly hôn luôn cần sự chính xác, thỏa đáng. Bởi nếu xét xử đúng, kết quả đó sẽ phù hợp với nguyện vọng, mong muốn của các bên, bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình. Ngược lại nếu việc giải quyết không chính xác sẽ dẫn đến tan vỡ hạnh phúc gia đình, gây ra những hậu quả không đáng có. Mặt khác, giải quyết ly hôn cũng đòi hỏi sự linh hoạt trong việc vận dụng căn cứ ly hôn đối với mỗi trường hợp cụ thể. Trong từng trường hợp, tòa án cần xem xét dấu hiệu của sự tan vỡ hôn nhân để quyết định cho ly hôn hay không?
Theo đó, căn cứ ly hôn là các tình tiết, điều kiện được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết đó, Tòa án mới được xử cho ly hôn. Đó là điều kiện cần và đủ được quy định một cách thống nhất trong pháp luật, dựa trên các điều kiện đó thì Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn.
5. Ý nghĩa của việc quy định căn cứ ly hôn
Nhà nước quy định về căn cứ ly hôn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin với cơ sở khoa học và đã qua thực tiễn thi hành trong hàng chục năm kể từ khi nhà nước ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. Đây là khung pháp lý để Tòa án có thể giải quyết yêu cầu ly hôn một cách chính xác và thỏa đáng theo Luật Hôn nhân và đình năm 2014.
Việc quy định căn cứ ly hôn trong luật là điều vô cùng cần thiết, có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo lợi ích của vợ chồng; của giai cấp thống trị, của Nhà nước và xã hội trong việc điều chỉnh quan hệ gia đình, quan hệ vợ chồng. Xã hội, đất nước muốn phát triển vững mạnh thì gia đình phải ổn định, Nhà nước chỉ cho phép chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng khi việc ly hôn không trái với lợi ích gia đình. Mặt khác, căn cứ ly hôn còn đảm bảo sự công bằng về lợi ích giữa các bên đương sự. Khi giải quyết ly hôn, cần hiểu rằng tình trạng hôn nhân đã tan vỡ, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại và phát triển được nữa. Ly hôn chính là một giải pháp đảm bảo quyền và lợi ích cho các bên, giải thoát xung đột, bế tắc trong hôn nhân. Và đây cũng chính là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết việc ly hôn của vợ chồng khi có yêu cầu. Trong quá trình giải quyết, nếu Tòa án xét thấy quan hệ hôn nhân của vợ chồng không có đủ căn cứ thì Tòa án sẽ không ra quyết định, bản án ly hôn.
Ngoài ra, các quy định về căn cứ ly hôn giúp cho vợ chồng nhận thức, điều chỉnh hành vi của mình để có thể tự dàn xếp, thỏa thuận để quan hệ vợ chồng tốt đẹp hơn hoặc đưa ra quyết định ly hôn; làm bình ổn quan hệ hôn nhân, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của xã hội, củng cố chế độ một vợ một chồng tự nguyện, tiến bộ; góp phần khẳng định nguyên tắc bình đẳng giữa vợ, chồng. Là cơ sở để đảm bảo sự nhất quán trong việc xây dựng những chế định, những quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.