1. Hỏi về thủ tục truất quyền thừa kế ?

Thưa luật sư, ông nội tôi muốn truất quyền thừa kế, thủ tục như thế nào và thực hiện ở đâu?
Xin cảm ơn!
Người gửi: T. Hương.

Hỏi về thủ tục truất quyền thừa kế

Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến (24/7) gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp pháp luật của công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Điều 648 Bộ luật dân sự 2005. (Văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định về quyền của người lập di chúc như sau:

Người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Do đó, ông nội của bạn có thể thực hiện việc truất quyền thừa kế thông qua việc lập di chúc, trong di chúc có nội dung việc truất quyền thừa kế. Tuy nhiên cần chú ý đến các điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự 2005:

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Như vậy, để đảm bảo chắc chắn nhất di chúc được coi là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật, chúng tôi đề xuất ông nội bạn nên làm thủ tục lập di chúc bằng văn bản tại Cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự:

1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc;

2. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

Hoặc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc theo thủ tục như trên (Điều 661 Bộ luật dân sự). Trân trọng./

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Con trai nuôi muốn giành quyền thừa kế khi ngược đãi cha mẹ ?

Kính gửi Luật sư! Tôi xin được tư vấn trường hợp như sau: - Ba Mẹ tôi sinh thời có nhận một người con trai làm con nuôi và nuôi từ khi anh bị bỏ tại bệnh viện từ ngày sinh đầu tiên. Ba tôi đã qua đời, mẹ tôi chia đất tổ tiên cho anh em mỗi người một mảnh nhỏ. Anh trai tôi dù là con nuôi nhưng cũng được phần đất lớn nhất.

Trong gia đình tôi có 02 chị gái của tôi không được chia đất vì kinh tế 2 chị lúc đó cũng tạm ổn hơn các anh em còn lại. Mẹ tôi cũng để lại 1 phần đất để ở và để làm nhà thờ hương hỏa sau này. - Anh trai tôi hiện có 3 con trai. Nay anh muốn giành luôn nhà hương hỏa của mẹ tôi để làm nhà riêng cho con trai cả (đang học đại học). Rất nhiều lần anh đòi đục tường sang nhà mẹ tôi (chung tường) để cho con trai lớn sang ở, hoặc đòi xây thêm phòng cho con trai lớn ở ngay trong nhà mẹ tôi. Nhưng mẹ tôi không cho. Hiện tại vì sợ bị giành đất sau này nên mẹ tôi đã ra phường làm tờ di chúc, trong đó nêu rõ đất đai đã chia hết cho các con. Nhà mẹ tôi đang ở sau này sẽ làm nhà thờ, không ai được ở trong ngôi nhà đó ngoài việc thắp hương thờ phụng. - Tôi có chị gái đầu, nhà sát với nhà mẹ, chị tôi không có gia đình. Nên anh trai tôi cũng nhăm nhe giành nhà đó luôn cho con tai út (3 tuổi). Anh trai tôi đi rêu rao quanh xóm là nhà đang ở sẽ cho con trai giữa, nhà mẹ tôi đang ở sẽ là nhà của con trai lớn. Nhà chị gái tôi đang ở sẽ là nhà của con trai út anh ấy. - Biết rõ ý đồ nên mẹ tôi làm giấy tờ để phòng thân. Thấy được việc giành nhà, đục tường, xây phòng bị từ chối, nên anh trai tôi thường xuyên tìm lý do quậy phá, chửi bới mẹ tôi và các anh em tôi. - Tôi là con gái út, nhà ở phía ngoài cùng. Nay tôi đã chuyển đi chỗ khác sinh sống. Chỗ nhà mẹ cho (32m) tôi mở quầy tạp hóa buôn bán. Nhưng vì thấy vợ chồng tôi mua được nhà, làm ăn buôn bán được nên anh tai tôi đâm ra thù ghét. 2 vợ chồng tìm lý do từ 2 đứa con nít (con tôi 4 tuổi và con anh tôi 3.5 tuổi) để gây chuyện và đánh tôi. Sáng hôm sau qua quán nhục mạ chồng tôi và lớn tiếng đuổi chồng tôi đi chỗ khác sinh sống. - Vợ chồng tôi có một xe tải nhỏ để đi giao hàng. Hằng ngày và tối xe đậu trước vỉa hè nhà chị gái và nhà má tôi. Nhưng anh trai tôi hăm he không được để xe ở đó và có ý định phá hoại xe của tôi. Vậy, để đề phòng vấn đề xảy ra trước khi mọi chuyện đã lỡ. Kính nhờ luật sư tư vấn giúp các vấn đề sau đây:

1. Tôi phải làm gì để giúp mẹ tôi bớt bị chửi bới?

2. Trường hợp anh tôi vẫn cố tình đục tường sang thì tôi và các chị em nên kiện tụng và thu thập chứng cứ như thế nào?

3. Trường hợp mẹ tôi mất đi, gia đình chị em tôi nên làm như thế nào để ngôi nhà mẹ tôi đang ở được yên bình là ngôi nhà hương hỏa cho Ba, Mẹ và 3 chị gái ko có gia đình của tôi (hiện tại bàn thờ ba tôi và 2 chị gái đang ở đó) mà để anh trai nuôi của tôi không được xâm phạm với bất cứ lý do nào?

4. Tôi nên làm gì để đề phòng anh tôi phá hoại tài sản xe cộ và cửa hàng của mình?

5. Trường hợp bị phá hoại xảy ra, tôi nên thu thập chứng cứ gì, nên khởi kiện tại đâu. và trường hợp anh tôi chây ì không tham gia kiện tụng thì tôi nên xử lý như thế nào?

- Rất mong nhận được phản hồi của Luật Sư. Tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc Quý văn phòng mình sức khỏe và ngày càng phát triển. Trân trọng!

Con trai nuôi muốn giành quyền thừa kế, ngược đãi mẹ xử lý thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư phân tích:

Thứ nhất, anh trai bạn đã có hành vi chửi bới mẹ và các anh chị em khác, đánh bạn và nhục mạ chồng bạn, những hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điều 49, điều 51, điều 51 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình:

" Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này."

" Điều 51. Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;

c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này."

" Điều 52. Hành vi cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cấm thành viên gia đình ra khỏi nhà, ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, bạn bè hoặc có các mối quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh nhằm mục đích cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý đối với thành viên đó;

b) Không cho thành viên gia đình thực hiện quyền làm việc;

c) Không cho thành viên gia đình tham gia các hoạt động xã hội hợp pháp, lành mạnh.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi buộc thành viên gia đình phải chứng kiến cảnh bạo lực đối với người, con vật.

3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cưỡng ép thành viên gia đình thực hiện các hành động khiêu dâm, sử dụng các loại thuốc kích dục;

b) Có hành vi kích động tình dục hoặc lạm dụng thân thể đối với thành viên gia đình mà thành viên đó không phải là vợ, chồng.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1, 2 và Khoản 3 Điều này."

Để anh trai bạn chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện bạn có thể đến khai báo với cơ quan có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân cấp xã để xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài ra anh anh bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 151, Luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, nếu thấy anh bạn đã bị xử phạt vi phạm hành chính rồi nhưng chưa sửa đổi tiếp tục hành vi chửi bới mẹ bạn, hoặc hiện tại đã gây ra áp lực tâm lý nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe, danh dự nhân phẩm của mẹ bạn thì trình báo lên cơ quan Công an để truy cứu anh bạn về những hành vi trên.

" Điều 151. Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình

Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm."

Về hành vi đục tường sang nhà mẹ bạn và hành vi phá hoại xe tải nhà bạn, thì anh trai bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điều 15 nghị định 167/2013, Ủy ban nhân dân cấp xã là nơi bạn có thể thông báo về hành vi này

" Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản;

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác;

b) Gây mất mát, hư hỏng hoặc làm thiệt hại tài sản của Nhà nước được giao trực tiếp quản lý;

c) Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản;

d) Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác;

đ) Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm phápluật mà có;

e) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm a, b, c Khoản 1; Điểm c, đ, e Khoản 2 Điều này.

4. Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam."

Nếu như hành vi của anh bạn đi quá giới hạn xử lý vi phạm hành chính, gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến giá trị chiếc xe thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 143 Bộ luật Hình sự, riêng hành vi hủy hoại ngôi nhà của mẹ bạn cũng đã đảm bảo các dấu hiệu cấu thành tội phạm hủy hoại tài sản do thuộc trường hợp quy định tại điểm a, khoản 3 điều 143. Nếu anh bạn thực hiện những hành vi này, bạn nên khai báo với cơ quan công an để anh bạn chấm dứt hành vi. Tài liệu chứng cứ kết quả giám định giá trị giảm sút của ngôi nhà hoặc chiếc xe, bên cạnh đó bạn có thể nhờ những người xung quanh làm chứng cho hành vi sai phạm của anh bạn.

" Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưnggây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Để che giấu tội phạm khác;

đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;

e) Tái phạm nguy hiểm;

g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Bên cạnh việc khai báo với cơ quan thẩm quyền để anh bạn chịu trách nhiệm hình sự thì anh bạn cũng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Dân sự, bạn có thể khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi gia đình bạn cư trú.

Về việc mảnh đất nhà bạn, thì để đảm bảo quyền sở hữu về mảnh đất của gia đình bạn thì các chị em bạn giúp mẹ bạn làm di chúc hợp pháp. Bạn chú ý các yêu cầu về di chúc hợp pháp theo quy định tại điều 652 Bộ luật Dân sự 2005

" Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực."

Ngoài ra bạn nên lưu ý về trường hợp di sản dùng để thờ cúng được pháp luật quy định như sau

" Điều 670. Di sản dùng vào việc thờ cúng

1. Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.

Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

2. Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng."

Anh trai bạn sẽ là người không được hưởng di sản theo điều 643 trừ khi mẹ bạn để lại theo di chúc.

" Điều 643. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Không làm thủ tục nhận mẹ nuôi thì có được quyền thừa kế tài sản ?

Kính gửi Quý Công ty Luật! Tôi xin được Quý công ty tư vấn giúp tôi về việc thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Tôi xin được trình bày như sau: Tôi sinh năm 1960, HKTT ở Hà Nội. Bố mẹ đẻ của tôi đã mất sớm. Chỉ có một mình tôi là con.

Ngôi nhà tôi đang ở có sổ đỏ chỉ đứng tên mẹ nuôi của tôi (sau đây xin gọi là “mẹ tôi”, mẹ nuôi nhưng không có giấy chứng nhận con nuôi). Mẹ tôi lấy bố tôi (sau khi mẹ đẻ của tôi mất sớm và nuôi tôi từ khi còn nhỏ) nhưng không đăng ký kết hôn. Sổ hộ khẩu được cấp từ năm 1993 (ở từ những năm 60). Thành viên trong sổ hộ khẩu gồm:

- Chủ hộ: là mẹ tôi

- Tôi: quan hệ với chủ hộ là con

- Vợ tôi: quan hệ với chủ hộ là con dâu

- Và các con, cháu của tôi.

Năm 2007 mẹ tôi mất đột ngột (không có di chúc). Tôi đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế là tài khoản ngân hàng (chưa kê tài sản nhà đất) đã được công chứng và được thừa hưởng. Tôi cũng được thừa hưởng tiền BHXH của mẹ tôi (có quyết định của BHXH) Tôi đang lưu giữ các giấy tờ của mẹ tôi gồm: CMND; Sổ hộ khẩu; Sổ đỏ. Nay gửi thư này xin được Quý Công ty luật hỗ trợ tư vấn làm thủ tục khai nhận tài sản thừa kế ?

Xin chân thành cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì chúng tôi có thể hiểu được rằng người mẹ này cũng đồng thời là mẹ kế của bạn.

Trường hợp 1: Nếu bạn muốn đứng ra khai nhận di sản thừa kế với tư cách con nuôi thì việc giải quyết rất khó. Bởi pháp luật chỉ thừa nhận quan hệ mẹ nuôi - con nuôi thông qua giấy chứng nhận đăng ký nuôi con nuôi. Mà tại thời điểm này bạn không có giấy tờ này, do đó cơ quan nhà nước không thể phân chia di sản thừa kế cho bạn được.

Trường hợp 2: Bạn đứng ra yêu cầu thực hiện khai nhận di sản thừa kế với tư cách con riêng và mẹ kế theo quy định tại Điều 654 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể:

"Điều 654. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này."

Trong trường hợp này bạn vẫn thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại UBND xã hoặc văn phòng công chứng như thông thương.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế ?

Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm mở thừa kế theo Điều 633 Bộ luật Dân sự là thời điểm người có tài sản chết). Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế quy định tại điều này được coi là khá rõ ràng và phù hợp hơn so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995.

Tuy nhiên, trên thực tế khi áp dụng quy định này cho thấy trong một số trường hợp còn chưa thống nhất về cách hiểu. Sau đây là một ví dụ:

Vợ chồng Ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B có hai người con trai là C và D nhưng đều đã chết khi còn bé, hai vợ chồng ông A bà B nhận bà K về làm con nuôi khi bà K mới 5 tuổi (con nuôi hợp pháp). Năm 1980 ông A chết không để lại di chúc, tài sản mà vợ chồng ông A bà B có được là 200m2 đất (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất đứng tên bà B) và một ngôi nhà cấp 4. Bà K lấy chồng nhưng vẫn ở với bà B đến năm 1984 mới về quê chồng. Năm 1991 bà B chết không để lại di chúc. Sau khi bà B chết ông H (cháu gọi ông A bằng Bác) đến ở và quản lý toàn bộ tài sản của vợ chồng ông A bà B để lại. Năm 1993 bà K yêu cầu ông H trả lại toàn bộ tài sản do bố, mẹ bà để lại nhưng ông H không đồng ý, do ông H chưa có nhà nên bà K đã cho ông H ở nhờ thêm một thời gian. Tháng 12 năm 2005, do có nhu cầu sử dụng nhà đất nên bà K yêu cầu ông H trả lại nhà do bố, mẹ để lại.

.Áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Xung quanh vấn đề này hiện có hai quan điểm khác nhau, quan điểm thứ nhất cho rằng đây là tranh chấp về thừa kế, do đó theo quy định về thời hiệu khởi kiện tại Điều 645 BLDS thì bà K không còn thời hiệu khởi kiện nữa, mặc dù bà K là con nuôi của vợ chồng ông A bà B nhưng kể từ thời điểm bà B chết đến năm 2005 đã hơn 10 năm, do đó bà K đã hết quyền yêu cầu đòi tài sản do bố mẹ để lại.

Quan điểm thứ hai cho rằng đây là đòi lại tài sản do bố mẹ để lại mà không phải yêu cầu chia di sản hay xác nhận quyền thừa kế. Quan điểm này cho rằng, Điều 636 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Quy định này được hiểu là kể từ thời điểm người có tài sản chết, các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế mặc nhiên phát sinh, tức là người thừa kế được quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật (Điều 631 BLDS), đồng thời cũng có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại (Điều 637 BLDS). Trong trường hợp này, ông A và bà B có hai người con nhưng đã chết lúc còn bé, do đó chỉ có bà K là người duy nhất được thừa kế theo pháp luật (thuộc hàng thừa kế thứ nhất) đối với di sản do ông A bà B để lại, bà K không thuộc trường hợp từ chối nhận di sản theo Điều 642 BLDS, cũng không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 643 BLDS. Do vậy, sau khi bố mẹ chết, bà K mặc nhiên có các quyền và nghĩa vụ đối với tài sản mà bố mẹ bà để lại, việc ông H chiếm đoạt và sử dụng tài sản là không đúng với quy định của pháp luật, ông H không phải là người thừa kế theo pháp luật, cũng không phải là người thừa kế theo di chúc của vợ chồng ông A bà B. Vì vậy, với tư cách là người thừa kế duy nhất theo pháp luật, bà K có quyền khởi kiện ra Toà án để yêu cầu ông H trả lại tài sản do bố, mẹ Bà để lại.

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Quyền thừa kế ngôi nhà là tài sản tranh chấp khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Vợ chồng chúng tôi đã ở ngôi nhà mang tên mẹ tôi nhưng thực chất trong đó có một phần lớn giá trị tài sản là tiền của chúng tôi. Sau khi bố tôi qua đời tất cả thành viên trong gia đình tôi (trừ đứa em ở nước ngoài) ký tên đồng ý từ chối nhận quyền thừa kế, tài sản đó được cho tặng vợ chồng tôi tính đến nay đã 20 năm.

Hiện tại ngôi nhà đó chúng tôi đã bán và mua ngôi nhà khác cách đây 6 năm, nhưng bây giờ vợ chồng tôi sống không hạnh phúc. Nếu ly hôn thì đứa em không ký vào từ chối thừa kế tài sản trên có được tham gia vào việc tranh chia tài sản ngôi nhà mẹ tôi đứng tên khi chúng tôi ly hôn không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trước hết, thông tin bạn cung cấp tuy không nói rõ căn nhà kia có phải là tài sản chung của bố mẹ bạn không như bạn đã đưa ra thông tin sau khi bố mất thì tất cả các thành viên trong gia đình (trừ em ở nước ngoài) đã ký tên đồng ý không nhận tài sản thừa kế nên chúng tôi sẽ coi như căn nhà trước kia là một phần di sản mà bố bạn để lại. Như vậy, người em đang ở nước ngoài có 1 phần quyền sở hữu đối với căn nhà kia.

Căn cứ theo điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015) quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế là trong thời hạn 10 năm kể từ ngày mở thừa kế, pháp luật đã để trống cho người có quyền thời hiệu 10 năm để khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, nếu không khởi kiện chia di sản thừa kế trong khoảng thời gian 10 năm như quy định của pháp luật thì xem như tự từ bỏ quyền của mình và phải tự gánh chịu bất lợi. Như bạn đưa thông tin, vợ chồng bạn được tặng cho tài sản đến nay đã 20 năm, thời hiệu khởi kiện đã hết, nên coi như em bạn đã mất quyền khởi kiện. Như vậy, em bạn sẽ không thể tranh quyền thừa kế căn nhà trước kia nữa.

Câu hỏi của bạn là khi bạn ly hôn thì người em đó có được tham gia vào việc phân chia tài sản là căn nhà mà mẹ bạn đứng tên nữa hay không. Câu trả lời của chúng tôi là không. Bởi vì như bạn đã nói, bạn ly hôn, nghĩa là Tòa án sẽ chỉ xử lý yêu cầu ly hôn của vợ chồng bạn, kèm theo đó là giải quyết yêu cầu về con chung, tài sản chung vè riêng của vợ chồng bạn chứ không chia thừa kế nên em bạn đương nhiên sẽ không được tham gia vào quá trình giải quyết ly hôn của vợ chồng bạn, Tòa sẽ không giải quyết chia thừa kế cùng ly hôn.

Mặt khác, như chúng tôi đã nêu ở trên, bởi thời hạn khởi kiện về thừa kế đã hết nên Tòa án cũng sẽ không giải quyết việc phân chia tài sản là căn nhà mẹ bạn đứng tên nữa.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?