Luật Minh Khuê phân tích chi tiết về quy định pháp luật và thủ tục thực hiện:

 

1. Các trường hợp loại bỏ quyền thừa kế do ngược đãi 

Quyền truất quyền thừa kế theo ý chí của  Ông bà/cha mẹ:
Điều 626 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền của người lập di chúc như sau:
Điều 626. Quyền của người lập di chúc
Người lập di chúc có quyền sau đây:
1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Căn cứ Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc (Ông/bà hay Cha/Mẹ) có quyền chỉ định người thừa kế và truất quyền hưởng di sản của người thừa kế mà không cần phải nêu rõ lý do. Nếu cha mẹ lập di chúc hợp pháp thể hiện rõ việc không cho người con có hành vi ngược đãi được hưởng di sản, người đó sẽ bị truất quyền.

Do đó, Người để lại di sản thừa kế có thể thực hiện việc truất quyền thừa kế thông qua việc lập di chúc, trong di chúc có nội dung việc truất quyền thừa kế. Tuy nhiên cần chú ý đảm bảo các điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp quy định tại Điều 630 Bộ luật dân sự 2015:

Tước quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
  • Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản (cha mẹ), xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
  • Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.

Như vậy, trong trường hợp có các bằng chứng pháp lý rõ ràng (bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án) hoặc trong trường hợp có những bằng chứng thực tế (hành vi đánh đập, chửi bởi, đuổi ra khỏi nhà ...) chứng minh người có quyền hưởng di sản xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe hoặc hành vi ngược đãi về tinh thần có thể bị tước quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định pháp luật dân sự về thừa kế.

 

2. Thủ tục thực hiện việc truất quyền/tước quyền thừa kế

Theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành, không có một "thủ tục truất quyền thừa kế" độc lập được thực hiện tại một cơ quan chuyên trách duy nhất. Thay vào đó, địa điểm và cơ quan có thẩm quyền giải quyết phụ thuộc hoàn toàn vào thời điểm và cơ chế pháp lý được áp dụng: 1. Người để lại di sản chủ động truất quyền thông qua di chúc hoặc 2. Những người thừa kế khác yêu cầu tước quyền hưởng di sản thông qua con đường tố tụng.

Tùy thuộc vào thời điểm thực hiện (khi cha mẹ còn sống hay sau khi cha mẹ đã qua đời) mà thủ tục sẽ khác nhau:

Trường hợp 1: Cha mẹ còn sống và muốn lập di chúc truất quyền thừa kế

Nếu cha mẹ muốn chủ động loại bỏ người con bất hiếu, ngược đãi ra khỏi danh sách nhận di sản, cha mẹ cần tiến hành lập di chúc hợp pháp:
  1. Lập văn bản di chúc: Trong nội dung di chúc, cha mẹ ghi rõ họ tên người con bị truất quyền và tuyên bố không cho phép người này được hưởng bất kỳ phần di sản nào từ tài sản của mình.
  2. Công chứng hoặc chứng thực di chúc: Để đảm bảo tính pháp lý vững chắc, tránh việc di chúc bị tranh chấp, giả mạo hoặc kiện toàn về mặt hình thức, cha mẹ nên lập di chúc tại Tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng/Văn phòng công chứng) hoặc UBND xã/phường.

Ví dụ thực hiện tại Văn phòng công chứng: Ông A bị con trai cả là B thường xuyên chửi bới, bỏ mặc không chăm sóc lúc ốm đau. Khi sức khỏe suy yếu, ông A mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Căn cước công dân đến Văn phòng Công chứng tại địa phương. Ông yêu cầu Công chứng viên lập di chúc, ghi rõ để lại toàn bộ tài sản cho con gái út là C, đồng thời truất quyền hưởng thừa kế đối với B.

Như vậy, người để lại di sản thừa kế có quyền tuyên bố ý chí truất quyền trong văn bản di chúc. Pháp luật không bắt buộc cha mẹ phải cung cấp bằng chứng chứng minh hành vi ngược đãi cho cơ quan công chứng/chứng thực, vì đây là quyền định đoạt tài sản cá nhân.

Lưu ý ngoại lệ (Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015): Nếu người con bị truất quyền thuộc diện chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động, họ vẫn được hưởng một phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, trừ khi họ thuộc trường hợp bị tước quyền theo Điều 621.

Trường hợp 2: Xử lý khi cha mẹ đã qua đời (Yêu cầu tước quyền thừa kế do ngược đãi)

Nếu cha mẹ chưa kịp lập di chúc truất quyền trước khi mất, nhưng người con đó có hành vi ngược đãi, hành hạ nghiêm trọng hoặc vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, các đồng thừa kế khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước xác định người này không được quyền hưởng di sản:
Thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm:
Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án kết luận người đó phạm tội cố ý gây thương tích, ngược đãi, hành hạ cha mẹ (nếu đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự).
Các tài liệu, biên bản hòa giải tại địa phương, giấy xác nhận của Công an xã/phường, UBND, hội phụ nữ, tổ dân phố, tin nhắn, hình ảnh, vi bằng hoặc lời khai của người làm chứng về việc người đó thường xuyên bạo hành, bỏ mặc, không chăm sóc cha mẹ khi già yếu.
Khởi kiện hoặc yêu cầu tại Tòa án:
Khi tiến hành phân chia di sản thừa kế (thường thông qua thủ tục khai nhận/phân chia di sản hoặc tranh chấp di sản thừa kế tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền), người đại diện các thừa kế hợp pháp đưa ra yêu cầu Tòa án tuyên bố loại bỏ người có hành vi ngược đãi ra khỏi hàng thừa kế dựa trên Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 (Người không được quyền hưởng di sản) và các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015..
Trong trường hợp cha mẹ đã qua đời, không kịp để lại di chúc nhưng người con có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, các đồng thừa kế khác muốn loại bỏ người này ra khỏi hàng thừa kế thì phải khởi kiện tại Tòa án. Địa điểm nộp hồ sơ khởi kiện:
  • Tòa án nhân dân khu vực nơi có bất động sản: Nếu di sản thừa kế là bất động sản (nhà, đất), Tòa án nơi có bất động sản sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp chia thừa kế.
  • Tòa án nhân dân khu vực nơi bị đơn cư trú: Nếu di sản chỉ là động sản (tiền, xe cộ, sổ tiết kiệm...), đơn khởi kiện được nộp tại Tòa án nơi người bị kiện (người có hành vi ngược đãi) đang cư trú hoặc làm việc.
  • Tòa án nhân dân cấp tỉnh: Được áp dụng trong trường hợp vụ án có đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản thừa kế ở nước ngoài.

Ví dụ 2 thực hiện tại Tòa án: Bà M qua đời đột ngột không để lại di chúc, di sản là một căn nhà tại phường Bình Thạnh. Con trai bà là N từng bị kết án tù về tội ngược đãi bà M. Khi tiến hành chia thừa kế, N vẫn yêu cầu được hưởng một phần căn nhà. Nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp, các người con khác của bà M đã thu thập bản án hình sự của N và nộp đơn khởi kiện chia di sản thừa kế tại Tòa án nhân dân khu vực (tại phường Bình Thạnh), yêu cầu Tòa án áp dụng Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 để tuyên tước quyền hưởng di sản của N.

Như vậy, thông qua việc lập di chúc công chứng/chứng thực khi cha mẹ còn minh mẫn là cách nhanh chóng và rõ ràng nhất để định đoạt tài sản và thể hiện ý chí truất quyền đối với người con vi phạm đạo đức gia đình. Đồng thời, nếu xảy ra các hành vi ngược đãi, gia đình nên trình báo ngay cơ quan công an hoặc chính quyền địa phương để thiết lập hồ sơ vi phạm hành chính hoặc hình sự. Đây là căn cứ không thể chối cãi để tước quyền thừa kế tại Tòa án sau này.

.Áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

3. Câu hỏi thường gặp về truất quyền hoặc tước quyền thừa kế

Thông qua quá trình tư vấn và giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế, Luật Minh Khuê nhận thấy người dân thường gặp các vướng mắc pháp lý có liên quan như sau:

Thủ tục truất quyền thừa kế thực hiện ở đâu?

Trả lời: Thủ tục loại bỏ một người khỏi diện hưởng di sản do hành vi ngược đãi được thực hiện tại Tổ chức hành nghề công chứng/UBND cấp xã (thông qua lập di chúc khi cha mẹ còn sống) hoặc tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền (thông qua khởi kiện tranh chấp di sản khi cha mẹ đã mất). Việc xác định đúng cơ sở pháp lý và cơ quan có thẩm quyền không chỉ giúp rút ngắn thời gian giải quyết mà còn bảo vệ tối đa quyền lợi chính đáng của những người thừa kế hợp pháp. Trong các vụ việc tranh chấp tại Tòa án có tính chất phức tạp, việc thiết lập hồ sơ chứng cứ vững chắc đóng vai trò quyết định để Tòa án có căn cứ tuyên tước quyền hưởng di sản của người vi phạm. Xem thêm: Phân biệt giữa tước quyền thừa kế và truất quyền thừa kế

Người bị truất quyền thừa kế vẫn được hưởng di sản khi nào?

Trả lời: Theo quy định của pháp luật dân sự, khi một người đã bị truất quyền thừa kế (thông qua di chúc) hoặc bị tước quyền hưởng di sản (theo quy định pháp luật), họ vẫn có thể được nhận di sản trong một số ngoại lệ và trường hợp đặc biệt sau đây:

Trường hợp vẫn được hưởng theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 (Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc). Đây là trường hợp phổ biến nhất khi một người bị cha mẹ lập di chúc truất quyền (cố ý không cho hưởng di sản) nhưng vẫn được pháp luật bảo vệ quyền lợi tối thiểu. Những người sau đây vẫn được hưởng một phần di sản bằng hai phần ba 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, dù trong di chúc cha mẹ có truất quyền hay không cho họ hưởng:

  1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng.
  2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

Những người này chỉ bị mất quyền này nếu họ thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 (ví dụ: có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe nghiêm trọng hoặc ngược đãi, hành hạ nghiêm trọng người để lại di sản đã có bản án kết luận của Tòa án). Nếu chỉ bị cha mẹ ghét bỏ, bất hòa hoặc truất quyền đơn thuần trong di chúc mà không vi phạm nghiêm trọng theo Điều 621, họ vẫn được hưởng phần di sản bắt buộc này.

Trường hợp được người để lại di sản cho hưởng lại thông qua di chúc mới hoặc sửa đổi: Di chúc không phải là văn bản bất biến. Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc bất cứ lúc nào trước khi chết (theo Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015). Nếu trước đây cha mẹ vì tức giận mà lập di chúc truất quyền thừa kế của một người con, nhưng sau đó mối quan hệ được cải thiện, cha mẹ lập một bản di chúc mới (hoặc bổ sung di chúc) định đoạt lại cho người con đó hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản, thì người con đó vẫn được nhận di sản theo ý nguyện mới nhất của người để lại di sản.

Trường hợp được các đồng thừa kế khác tự nguyện chia lại di sản: Sau khi người để lại di sản qua đời, di sản thuộc quyền sở hữu chung của những người được thừa kế hợp pháp (theo di chúc hoặc theo pháp luật). Mặc dù một người đã bị truất quyền hoàn toàn theo di chúc hợp pháp và không thuộc diện hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc, nhưng nếu các đồng thừa kế khác đồng thuận, họ hoàn toàn có quyền tự nguyện tặng cho lại hoặc thỏa thuận cắt một phần di sản của mình để chia cho người đã bị truất quyền (ví dụ vì tình cảm anh em, tình nghĩa gia đình). Việc thỏa thuận này được lập thành văn bản khai nhận/phân chia di sản hoặc văn bản tặng cho tài sản có công chứng/chứng thực.

Trường hợp văn bản truất quyền/di chúc bị tuyên vô hiệu: Việc truất quyền thừa kế chủ yếu dựa trên di chúc hợp pháp. Nếu di chúc có chứa nội dung truất quyền bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần (do vi phạm điều kiện về hình thức, người lập di chúc bị đe dọa, lừa dối, không minh mẫn lúc lập, hoặc vi phạm điều cấm của luật), thì nội dung truất quyền đó không còn hiệu lực. Khi di chúc bị vô hiệu, di sản sẽ được chia theo quy định của pháp luật. Người từng bị truất quyền trong di chúc cũ sẽ quay trở lại hàng thừa kế và được hưởng di sản theo pháp luật (trừ khi họ bị tước quyền theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015).

Giả mạo giấy tờ thừa kế có bị tước hay truất quyền thừa kế?

Trả lời: Theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành, hành vi giả mạo giấy tờ, tài liệu liên quan đến thừa kế (đặc biệt là giả mạo di chúc, sửa chữa, hủy hoại hoặc che giấu di chúc) là cơ sở pháp lý trực tiếp dẫn đến việc bị tước quyền hưởng di sản. Căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì thuộc diện không được quyền hưởng di sản.

Mức xử phạt vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình?

Trả lời: Mức xử phạt hành chính đối với hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình theo quy định tại Nghị định 282/2025/NĐ-CP tùy thuộc vào mức độ vi phạm như sau: 
  • Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng: Áp dụng cho hành vi đe dọa xâm hại đến sức khỏe, tính mạng thành viên gia đình.  
  • Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng: Áp dụng cho hành vi đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại sức khỏe nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 
  • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc vật dụng khác gây thương tích (chưa đến mức truy cứu hình sự); Không kịp thời đưa đi cấp cứu hoặc không chăm sóc nạn nhân trong quá trình bị nạn; Hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình (như bắt nhịn ăn/uống, chịu rét, hạn chế vệ sinh cá nhân).  

Ngoài ra, người vi phạm bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu và chi trả toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh cho nạn nhân. 

Lưu ý: Nếu hành vi xâm hại gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên (hoặc dưới 11% nhưng có hung khí, tính chất nguy hiểm...), người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 134 Bộ luật Hình sự về tội cố ý gấy thương tích.  

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật thừa kế qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.