Các rủi ro có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng bất luận là nguyên nhân nào đều gây ra một hậu quả là làm cho người gặp rủi ro lâm vào tình trạng khó khăn trong đời sống, trong một số trường hợp tự họ không thể khắc phục được. Trong các trường hợp này, nếu người gặp rủi ro đã tham gia bảo hiểm và rủi ro mà họ gặp đã được bảo hiểm, thì bằng nguồn vốn của mình, công ty bảo hiểm thực hiện việc chi trả tiền bảo hiểm một cách kịp thời. Từ đó người gặp rủi ro trong trường hợp này sẽ dễ dàng vượt qua được khó khăn do rủi ro đã mang đến.

 

1. Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm

Để khắc phục một phần thiệt hại do những rủi ro xảy ra đối với tính mạng, tài sản, trách nhiệm dân sự, Nhà nước khuyến khích cá nhân và các tổ chức tham gia bảo hiểm. Bảo hiểm là một hình thức khắc phục thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khi gặp những sự kiện rủi ro gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của mình. Khi có rủi ro xảy ra, người tham gia bảo hiểm được tổ chức bảo hiểm bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục hậu quả xảy ra. Mức độ bồi thường bao nhiêu phụ thuộc vào hợp đồng bảo hiểm mà các bên thoả thuận.

Theo quy định tại Điều 567 BLDS, hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Như vậy có thể hiểu hợp đồng bảo hiểm là việc tổ chức bảo hiểm cam kết bảo đảm bồi thường một số tiền nhất định cho cá nhân, tổ chức khi sự kiện bảo hiểm xảy ra và có gây thiệt hại cho đối tượng được bảo hiểm trong một thời gian nhất định, còn bên mua bảo hiểm phải đóng một khoản tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm.

Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có đền bù. Hoạt động bảo hiểm là hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm. Vì vậy, muốn được bảo hiểm về tài sản thì các chủ thể phải mua phí bảo hiểm theo thoả thuận hoặc do pháp luật quy định.

Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm phải thông báo tình trạng của đối tượng bảo hiểm…có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và có quyền yêu cầu bên bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thoả thuận hoặc do pháp luật quy định.

Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba. Trường hợp bên mua bảo hiểm có chỉ định người thụ hưởng là người thứ ba, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên bảo hiểm chi trả cho người thứ ba được xác định. Hoặc bên mua bảo hiểm không phải bảo hiểm cho mình mà bảo hiểm cho người thứ ba. Ví dụ: cha mẹ mua bảo hiểm tính mạng, sức khoẻ cho con là học sinh tiểu học.

Đối tượng bảo hiểm có thể là con người, tài sản, trách nhiệm dân sự hay các đối tượng khác theo quy định của pháp luật. Con người là đối tượng bảo hiểm được hiểu là tính mạng, sức khoẻ của cá nhân bị tổn thất do sự kiện rủi ro…Tài sản bảo hiểm là tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được bên bảo hiểm bồi thường thiệt hại do các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Trách nhiệm dân sự là đối tượng bảo hiểm được hiểu là bên bảo hiểm phải thực hiện việc bồi thường thay cho chủ các phương tiện giao thông vận tải…trong phạm vi số tiền được bảo hiểm do thoả thuận hoặc do pháp luật quy định khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Việc tham gia bảo hiểm của các bên phải được thực hiện bằng hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản. Giấy yêu cầu bảo hiểm có chữ kí của bên mua bảo hiểm là một bộ phận không thể tách rời của hợp đồng bảo hiểm. Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng bảo hiểm.

Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm có thể được phân chia thành các loại sau: Hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

 

2. Khái niệm về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là hợp đồng về bảo hiểm trách nhiệm dân sự hay chính là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm) với bên tham gia bảo hiểm (tổ chức, cá nhân), theo đó doanh nghiệp bảo hiểm cam kết sẽ thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba thay cho bên được bảo hiểm nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, còn bên tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm.

Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự mang những đặc điểm chung của hợp đồng bảo hiểm, đồng thời có những đặc trưng riêng.

 

3. Đặc trưng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Đối tượng trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm về bồi thường thiệt hại, là loại bảo hiểm không thể xác định được giá trị đối tượng bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng. “ Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm đối với bên thứ ba theo quy định của pháp luật ”. (Điều 52 Luật kinh doanh bảo hiểm). Khác với hợp đồng bảo hiểm tài sản có đối tượng là tài sản cụ thể, hợp đồng bảo hiểm con người là bảo hiểm đối với một người cụ thể; đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người tham gia bảo hiểm đối với bên thứ ba. Đó là thiệt hại có thể xảy ra trong tương lai, trong phạm vi, giới hạn bảo hiểm và thuộc trách nhiệm bồi thường của bên tham gia bảo hiểm. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại mang tính trừu tượng chúng ta không nhìn thấy, không cảm nhận được bằng các giác quan và thực tế chúng không tồn tại hiện hữu trong không gian tại thời điểm giao kết hợp đồng. Chỉ khi nào người tham gia bảo hiểm gây thiệt hại cho người khác và phải bồi thường thì mới xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại là bao nhiêu. Thường đối với các hợp đồng bảo hiểm tài sản ta có thể xác định được mức tổn thất tối đa của tài sản khi giao kết hợp đồng, còn với các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự thì không thể xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại tối đa là bao nhiêu. Mức trách nhiệm bồi thường được xác định theo thoả thuận của các bên và các quy định của pháp luật, trên cơ sở mức độ lỗi của người gây thiệt hại và thiệt hại thực tế của người thứ ba. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các đi kiện sau: có hành vi gây thiệt hại của người tham gia bảo hiểm đối với người thứ ba; có lỗi của người gây thiệt hại; có thiệt hại thực tế đối với bên thứ ba; thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi gây thiệt hại và ngược lại hành vi là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.

Trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự lỗi của người tham gia bảo hiểm khi thực hiện hành vi gây thiệt hại là căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường của người tham gia bảo hiểm, đồng thời cũng là căn cứ để xác định trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm. Trên thực tế lỗi trong trách nhiệm dân sự là lỗi suy đoán, nên người gây thiệt hại bị suy đoán là có lỗi khi thực hiện hành vi gây thiệt hại, trừ trường hợp họ chứng minh được thiệt hại xảy ra trong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Căn cứ vào mức độ lỗi để xác định người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ, một phần hoặc liên đới bồi thường, từ đó doanh nghiệp bảo hiểm xác định trách nhiệm bồi thường của mình.

Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm khi có yêu cầu bồi thường của người thứ ba.

Nếu đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng người thứ ba không đòi người tham gia bảo hiểm phải bồi thường, thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng không phải chịu trách nhiệm đối với người tham gia bảo hiểm. Việc bồi thường thiệt hại có thể là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cũng có thể là bồi thường thiệt hại theo hợp đồng. Đối với việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì người thứ ba có thể là bất kì tổ chức hoặc cá nhân nào bị thiệt hại. Còn bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì người thứ ba được xác định cụ thể là người có một quan hệ hợp đồng đối với người tham gia bảo hiểm và bị thiệt hại từ hợp đồng đó do hành vi của người tham gia bảo hiểm gây ra. Hợp đồng bảo hiểm chỉ tồn tại giữa người tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, người thứ ba không có quyền trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp trả tiền bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu pháp luật không có quy định khác thì người thứ ba chỉ có quyền đòi bồi thường đối với người tham gia bảo hiểm, trên cơ sở đó doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường cho người tham gia bảo hiểm và trách nhiệm bồi thường cho người thứ ba thuộc về người tham gia bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm có thể thoả thuận về việc doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường trực tiếp cho người thứ ba bị thiệt hại. Trong một số trường hợp, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại; khắc phục kịp thời thiệt hại vật chất góp phần bình ổn tài chính đối với người bị thiệt hại, pháp luật quy định người thứ ba có thể trực tiếp khiếu nại đến doanh nghiệp bảo hiểm để yêu cầu bồi thường.

Trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự có thể giới hạn trách nhiệm bảo hiểm hoặc không giới hạn trách nhiệm bảo hiểm. Để đảm bảo lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời nâng cao ý thức của người tham gia bảo hiểm, các danh nghiệp bảo hiểm thường đưa ra các giới hạn trách nhiệm xác định mức bồi thường tối đa của doanh nghiệp bảo hiểm đối với những hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự cụ thể. Khi gây thiệt hại, mức trách nhiệm bồi thường của người tham gia bảo hiểm có thể là rất lớn, song mức trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ trong phạm vi số tiền bảo hiểm mà các bên đã thoả thuận. Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự có một số nghiệp vụ bảo hiểm không xác định số tiền bảo hiểm mà trách nhiệm dân sự phát sinh bao nhiêu doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường bấy nhiêu. Trường hợp này số tiền bảo hiểm được hiểu là toàn bộ thiệt hại xảy ra. Điều khoản số tiền bảo hiểm được đặt ra nhằm mục đích giới hạn phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, để đảm bảo kinh doanh có lãi thì doanh nghiệp bảo hiểm phải tính toán để giới hạn phạm vi trách nhiệm của mình trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự cụ thể. Đối với một số trường hợp ngoại lệ, khi doanh nghiệp bảo hiểm ký hợp đồng với người tham gia bảo hiểm, trong hợp đồng không xác định số tiền bảo hiểm cụ thể thì khi rủi ro xảy ra doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ bảo hiểm đối với toàn bộ thiệt hại.

 

4. Phân loại hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Căn cứ vào tính ý chí của chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm thì bảo hiểm trách nhiệm dân sự được chia thành hai loại là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự tự nguyện.

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh trách nhiệm, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chia thành hai loại là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự phát sinh theo hợp đồng và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự phát sinh ngoài hợp đồng.

Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm cụ thể, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự chia thành các loại là: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm của chủ đóng tàu, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách, bảo hiểm trách nhiệm công cộng, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ sử dụng lao động đối với người lao động, bảo hiểm trách nhiệm của chủ nuôi chó, các loại bảo hiểm trách nhiệm khác.

 

5. Vai trò của bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Rủi ro khách quan luôn tiềm ẩn trong đời sống xã hội hàng ngày. Thực tế các rủi ro này có thể do rất nhiều nguyên nhân và hậu quả của nó ngày càng không thể kiểm soát được. Ngoài những rủi ro do thiên tai mang tới còn có những rủi ro do chính hành vi của con người gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần cho người khác. Pháp luật quy định: vốn, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được nhà nước bảo hộ; bất kì tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại cho người khác thì phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại mà mình đã gây ra. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các phương tiện tham gia giao thông ngày càng nhiều trong khi hệ thống đường xá của Việt Nam không đáp ứng được tiêu chuẩn an toàn kĩ thuật, khoa học, cũng như nhu cầu xã hội; ý thức chấp hành luật lệ giao thông của người dân còn kém. Do vậy không tránh khỏi sự gia tăng không ngừng các vụ tai nạn giao thông, kéo theo các vụ kiện đòi bồi thường của nạn nhân hoặc gia đình họ đối với người gây thiệt hại. Có tai nạn, có kiện đòi bồi thường, rồi xác định được mức bồi thường thì vấn đề đặt ra lại là thực tế việc bồi thường được tiến hành như thế nào? Một vấn đề kéo theo là xã hội còn phải đối mặt với tình trạng bồi thường cho nạn nhân trong các vụ tai nạn giao thông. Có rất nhiều trường hợp nạn nhân không nhận được tiền bồi thường từ những người gây ra tai nạn, thậm chí trong những trường hợp người gây ra tai nạn được xác định rõ ràng. Lý do rất đơn giản là người gây ra tai nạn không có đủ nguồn tài chính tối thiểu để thực hiện nghĩa vụ luật định đối với nạn nhân. Trên thực tế, không phải trường hợp nào người không may bị tai nạn cũng được đền bù, bồi thường nhanh chóng đúng như theo luật định, và người gây tai nạn không phải lúc nào cũng sẵn sàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm tài chính của mình đối với những thiệt hại của người bị nạn do mình gây ra khi điều kiện tài chính không đủ để đáp ứng. Tuy nhiên nếu chủ chiếc xe đó đã tham gia mua bảo hiểm bắt buộc thì mọi việc sẽ được giải quyết thuận lợi hơn cho cả đôi bên. Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thay mặt chủ xe đền bù cho nạn nhân nếu được yêu cầu hoặc trong trường hợp chủ xe đã đền bù cho nạn nhân thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả lại số tiền đã bồi thường cho chủ xe, đảm bảo khả năng tài chính của họ.

Thiệt hại xảy ra có thể là rất lớn, nó vượt quá khả năng tài chính của người có trách nhiệm, đồng thời ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người có trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một cơ chế chắc chắn để khắc phục điều đó. Nhiều khi người gây thiệt hại không đủ khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ bồi thường, nên đối với người gây ra thiệt hại bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một cơ chế đảm bảo trách nhiệm bồi thường của họ khi họ gây ra thiệt hại cho người khác. Đối với người bị thiệt hại bảo hiểm trách nhiệm dân sự tạo cho họ một tâm lý yên tâm khi những thiệt hại của họ được một doanh nghiệp bảo hiểm đứng ra bồi thường thay cho người tham gia bảo hiểm. Về phía doanh nghiệp bảo hiểm họ có quyền thu phí bảo hiểm từ khách hàng song không phải lúc nào họ cũng phải đứng ra bồi thường thay cho khách hàng. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự ra đời đóng vai trò chia sẻ gánh nặng rủi ro về tài chính cho người có hành vi gây thiệt hại; khắc phục kịp thời thiệt hại về vật chất của bên thứ ba bị thiệt hại; góp phần bình ổn đời sống vật chất của các chủ thể trong xã hội.

Tài liệu tham khảo

1. Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Tập 2, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2008.

2. Bộ Luật Dân Sự 2005.

3. Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.

4. Bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam, TS. Phạm Văn Tuyết, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007.

5. Hướng dẫn pháp luật hợp đồng dân sự và cơ chế giải quyết tranh chấp trong bộ luật tố tụng dân sự, Đặng Văn Được – Tạ Thị Hồng Vân, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội, 2006.

6. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự, Nguyễn Thị Nhung, Luận văn thạc sĩ.

Nguồn: Luật Minh Khuê (tổng hợp & sưu tầm)