- 1. Huyết áp là gì?
- 2. Chu kỳ tim là gì?
- 3. Huyết áp chuẩn bình thường có chỉ số bao nhiêu?
- 4. Các bệnh lý về huyết áp
- 4.1 Huyết áp thấp
- 4.2 Huyết áp cao
- 5. Những yếu tố làm ảnh hưởng đến chỉ số huyết áp chuẩn
- 5.1 Do tâm lý và vận động
- 5.2 Do "sức khỏe" của động mạch
- 5.3 Do thiếu máu
- 5.4 Do các yếu tố bên ngoài
- 5.5 Khối lượng máu lưu thông trong cơ thể
- 5.6 Độ nhớt của máu
- 5.7 Bệnh lý đi kèm
- 6. Chỉ số cao hay thấp của huyết áp nguy hiểm như thế nào?
- 6.1 Huyết áp cao nguy hiểm như thế nào?
- 6.2 Huyết áp thấp nguy hiểm như thế nào?
- 7. Làm như thế nào để phòng ngừa và kiểm soát huyết áp?
- 7.1 Kiểm soát cân nặng
- 7.2 Xây dựng chế độ ăn uống khoa học
- 7.3 Luyện tập thể dục thể thao thường xuyên
- 7.4 Tránh âu lo, căng thẳng
1. Huyết áp là gì?
Huyết áp là áp lực của mạch máu lên thành động mạch. Huyết áp thì bằng cung lượng tim nhân với sức cản ngoại vi từ công thức này ta có thể biết được những yếu tố làm tăng giảm huyết áp.
Bình thường khi đo huyết áp có 2 chỉ số: số cao hơn là huyết áp tâm thu hay áp lực của máu lên động mạch khi tim co bóp. Chỉ số còn lại là huyết áp tâm trương hay áp lực máu lên thành động mạch khi tim giãn ra.
2. Chu kỳ tim là gì?
Chu kỳ tim là hoạt động của tim con người từ đầu của một nhịp tim đến đầu của một nhịp tim tiếp theo. Nó bao gồm hai giai đoạn: một giai đoạn trong đó cơ tim giãn và nạp máu, được gọi là tâm trương, tiếp theo là một khoảng thời gian co thắt mạnh và bơm máu, được gọi là tâm thu. Sau khi đẩy máu đi, tim ngay lập tức thư giãn và mở rộng để nhận thêm một lượng máu trở lại từ phổi và các hệ thống khác của cơ thể, trước khi co bóp để bơm máu đến phổi và các hệ thống đó. Một trái tim hoạt động bình thường phải được mở rộng hoàn toàn trước khi nó có thể bơm lại hiệu quả. Gỉa sử một trái tim khỏe mạnh và tỷ lệ điển hình từ 70 đến 75 nhịp mỗi phút, mỗi chu kỳ tim hoặc nhịp tim, mất khoảng 0,8 giây để hoàn thành một chu kỳ.
Có hai tâm nhĩ và hai tâm thất trong trái tim; chúng được ghép nối như trái tim và trái tim bên phải - đó là tâm nhĩ trái với tâm thất trái, tâm nhĩ phải với tâm thất phải - và chúng hoạt động nhịp nhàng để lặp lại chu kỳ tim liên tục (xem sơ đồ chu trình ở lề phải). Tại điểm "bắt đầu" của chu kỳ, trong tâm trương - sớm, tim giãn ra và giãn nở trong khi nhận máu và cả hai tâm thất thông qua cả hai tâm nhĩ; sau đó, gần cuối tâm trương - muộn, hai tâm nhĩ bắt đầu co lại (tâm thu - tâm nhĩ), và mỗi tâm nhĩ bơm máu vào thâm thất bên dưới nó. Trong giai đoạn tâm thu, tâm thắt co lại và đẩy ra hai lượng máu tách ra từ tim - một đến phổi và một đến tất cả các cơ quan và hệ thống khác trong cơ thể, trong khi hau tâm nhĩ thư giãn. Sự phố hợp chính xác này đảm bảo máu được lấy về và lưu thông trong cơ thể một cách hiệu quả.
Huyết áp là lực co bóp của ?
A. Tâm thất đẩy máu và mạch tạo ra huyết áp của mạch
B. Tâm nhĩ đẩy máu vào mạch tạo nên huyết áp của mạch
C. Tim đẩy máu vào mạch tạo ra huyết áp của mạch
D. Tim nhận máu từ tĩnh mạch tạo ra huyết áp của mạch
→ C
Ở người trưởng thành, mỗi chu kì tim kéo dài?
A. 0,1 giây; trong đó tâm nhĩ co 0,2 giây, tâm thất co 0,3 giây, thời gian dãn chung là 0,5 giây
B. 0,8 giây; trong đó tâm nhĩ co 0,1 giây, tâm thất co 0,3 giây, thời gian dãn chung là 0,4 giây
C. 0,12 giây; trong đó tâm nhĩ co 0,2 giây, tâm thất co 0,4 giây, thời gian dãn chung là 0,6 giây
D. 0,6 giây; trong đó tâm nhĩ co 0,1 giây, tâm thất co 0,2 giây, thời gian dãn chung là 0,6 giây
→ B
3. Huyết áp chuẩn bình thường có chỉ số bao nhiêu?
Thông thường, khi đo huyết áp, người ta tính bằng 2 chỉ số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Là 2 chỉ số áp lực của máu lên động mạch khi tim co bóp và giãn ra.
Ở trạng thái bình thường, chỉ số huyết áp chuẩn ở mức:
- Huyết áp tâm thu: từ 90 - 129 mmHg
- Huyết áp tâm trương: từ 60 - 84 mmHg
Chỉ số huyết áp này có thể thay đổi tùy theo thời điểm trong ngày, lên hoặc xuống tùy thể trạng từng người. Nếu chỉ số này quá cao hoặc quá thấp so với mức bình thường đều là những dấu hiệu cảnh báo bất thường về sức khỏe mà mỗi người không nên chủ quan.
4. Các bệnh lý về huyết áp
Dựa trên chỉ số huyết áp chuẩn, có thể thấy rõ ràng được sự tăng giảm của huyết áp trong một thời điểm nào đó. Các bệnh lỹ về huyết áp thường gặp là:
4.1 Huyết áp thấp
Khi chỉ số huyết áp tâm thu < 90 mmHg/hoặc huyết áp tâm trương < 60 mmHg. Khi chỉ số huyết áp thấp hơn mức bình thường sẽ dẫn đến tình trạng máu không đủ cung cấp cho các cơ quan hoạt động, nhất là những cơ quan ở xa tim như não. Từ đó dễ dẫn đến biểu hiện hoa mắt, buồn nôn, chóng mặt, thậm chí là ngất xỉu,...
4.2 Huyết áp cao
Huyết áp cao là căn bệnh khiến cho rất nhiều người mất đi khả năng lao động, bại liệt, tàn phế suốt đời. Huyết áp cao được tính theo các thang bậc theo chỉ số:
- Huyết áp bình thường cao: Chỉ số huyết áp tâm thu từ 130 - 139 mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương từ 85-89 mmHg
- Cao huyết áp độ 1: Chỉ số huyết áp tâm thu từ 140-159 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90-99 mmHg
- Cao huyết áp độ 2: Chỉ số huyết áp tâm thu từ 160-179 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương từ 100-109 mmHg
- Cao huyết áp độ 3: Chỉ số huyết áp tâm thu => 180 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương => 110 mmHg
- Cao huyết áp tâm thu đơn độc: Chỉ ố huyết áp tâm thu => 140 mmHg và huyết áp tâm trương < 90mmHg
5. Những yếu tố làm ảnh hưởng đến chỉ số huyết áp chuẩn
Chỉ số huyết áp chuẩn của mỗi người luôn có sự thay đổi theo thời điểm nhất định. Tuy nhiên, cần lưu ý những trường hợp thay đổi chỉ số huyết áp do nguyên nhân bệnh lý và là nguy cơ gây bệnh. Chỉ số này có thể thay đổi do những nguyên nhân sau:
5.1 Do tâm lý và vận động
Việc vận động mạnh hay tâm lý âu lo, căng thẳng, hồi hộp sẽ khiến cho tim co bóp nhanh hơn làm tăng áp lực của máu lên thành động mạch. Vì thế, chỉ số huyết áp sẽ cao hơn mức bình thường.
5.2 Do "sức khỏe" của động mạch
Máu được lưu thông thông qua động mạch để đi khắp cơ thể nuôi dưỡng các tế bào. Nếu động mạch "khỏe mạnh" có sự co giãn tốt, không bị cản trở thì việc lưu thông máu diễn ra dễ dàng. Vì thế không làm ảnh hưởng đến chỉ số huyết áp.
Do vậy, với những bệnh nhân bị xơ vữa động mạch, nhất là ở người cao tuổi, sức đàn hồi và co giãn kém của động mạch sẽ khiến cho máu lưu thông khó khăn. Thậm chí là tắc nghẽn mạch máu. Vì thế gây áp lực lớn cho thành động mạch dẫn đến tăng huyết áp thường xuyên hơn.
5.3 Do thiếu máu
Nếu lượng máu trong cơ thể thấp sẽ không đủ tạo áp lực để vận chuyển máu trong động mạch. Điều này dẫn đến chỉ số huyết áp giản, gây bệnh lý huyết áp thấp. Tình trạng này rất thường gặp với những người có sức khỏe yếu, thường xuyên căng thẳng mất ngủ, thiếu máu hoặc mất máu nhiều dẫn đến ngất xỉu, tử vong.
5.4 Do các yếu tố bên ngoài
Chỉ số huyết áp chuẩn cũng thay đổi do những nguyên nhân từ bên ngoài cơ thể:
Tư thế ngồi: Việc ngồi không đúng tư thế có thể dẫn đến việc máu không được lưu thông, huyết áp giảm hoặc tăng.
Sinh hoạt thường ngày: Thói quen sinh hoạt ảnh hưởng rất lớn đến huyết áp. Những người thường xuyên ăn mặn, chế độ ăn nhiều dầu mỡ, các chất kích thích lâu dần dẫn đến tình trạng xơ cứng thành động mạch, làm tăng huyết áp thường xuyên.
Thói quen vận động: Những người không có thói quen vận động, thể dục thường xuyên thường sẽ có chỉ số huyết áp không ổn định. Việc thể dục thể thao đều đặn sẽ giúp máu lưu thông tốt, phòng tránh được trường hợp tăng huyết áp bất thường.
5.5 Khối lượng máu lưu thông trong cơ thể
Đây được hiểu là tổng lượng máu di chuyển trong cơ thể. Nếu chỉ số này gia tăng sẽ kích thích tim đập nhanh, mạnh và dẫn đến huyết áp tăng. Ngược lại, nếu khối lượng máu giảm khi mất máu sẽ làm huyết áp giảm. Điển hình nhất là tình trạng thiếu máu, mất máu khiến lượng máu thiếu hụt sẽ không đủ áp lực cần thiết lên thành mạch để vận chuyển đến các cơ quan. Từ đó gây huyết áp thấp và cơ thể dễ gặp các biến chứng nguy hiểm khác.
5.6 Độ nhớt của máu
Độ nhớt của máu quyết định tốc độ lưu thông của chúng trong mạch cao hay thấp. Sự có mặt của protein và các yếu tố hình thành trong máu quyết định đến chỉ số này. Độ nhớt của máu ảnh hưởng khá lớn đến huyết áp và lưu lượng tuần hoàn của máu. Cụ thể nếu độ nhớt của máu càng cao sẽ cản trở sự lưu thông máu và dẫn đến huyết áp sẽ càng cao và ngược lại.
5.7 Bệnh lý đi kèm
Các bệnh lý có thể làm tăng khả năng mắc bệnh huyết áp như bệnh thận, u tủy thượng thận, hẹp động mạch thận, hội chứng Cushing, bệnh lý tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến yên, tuyến thượng thận, viêm dạ dày, viêm cầu thận,..Ngoài ra, một số sản phụ còn gặp phải tình trạng tăng huyết áp khi mang thai.
Đặc biệt, bệnh lý rối loạn mỡ máu được xem là yếu tố bệnh lý hàng đầu ảnh hưởng đến huyết áp. Tăng mỡ máu gây nên các mảng xơ vữa khiến tình trạng mạch máu bị xơ cứng, kém đàn hồi. Khi các thành phần mỡ máu như chilesterol, LDL bị rối loạn sẽ lắng động trên thành mạch và thúc đẩy hình thành mảng xơ vữa. Những mảng xơ vữa này làm lòng mạch dần hẹp lại, ngăn cản dòng máu đi nuôi các cơ quan trong cơ thể. Do đó, để cung cấp đầy đủ nhu cầu màu, cơ thể có những đáp ứng như tăng nhịp, tăng sức co bóp tim, tăng hấp thu giữ nước trong cơ thể dẫn đến tăng huyết áp. Bên cạnh đó, tăng mỡ máu còn làm tăng độ nhớt của máu - đây cũng là yếu tố góp phần làm cao huyết áp.
Điều đáng nói, bản thân cao huyết áp còn làm tổn thương nội mô của mạch máu, các LDL dư thừa làm lắng đọng cholesterol trong thành mạch máu, gây xơ vữa động mạch, từ đó gây ra nhiều biến chứng tim mạch nguy hiểm.
6. Chỉ số cao hay thấp của huyết áp nguy hiểm như thế nào?
6.1 Huyết áp cao nguy hiểm như thế nào?
Cao huyết áp được mệnh danh là "lẻ giết người thầm lặng" vì bệnh thường không có triệu chứng cụ thể, do đó người bệnh không được chẩn đoán và điều trị sớm, điều này để lại nhiều biến chứng nguy hiểm như:
Biến chứng tim mạch
Tăng huyết áp kéo dài làm hư hỏng lớp nội mạc của mạch vành khiến các phân tử Cholesterol tỷ trọng thấp (Cholesterol - LDL) dễ di chuyển vào lòng mạch máu bám vào thành mạch, từ đó hình thành mảng xơ vữa động mạch và làm hẹp mạch máu, đặc biệt là động mạch vành.
Điều đáng nói, nếu mảng xơ vữa động mạch bị nứt/vỡ thì trong lòng động mạch dễ hình thành cục huyết khối (máu đông), làm tắc động mạch khiến bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim và đe dọa đến tính mạng.
Phì đại cơ tim
Nhồi máu cơ tim do tăng huyết áp khiến một vùng cơ tim bị chết và không còn khả năng co bóp, dẫn đến suy tim. Tăng huyết áp không được phát hiện và điều trị sẽ làm cơ tim phì đại, dễ dẫn đến suy tim.
Theo thống kê của Bộ Y tế, các bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại Việt Nam, chiếm tới 33% tổng số ca tử vong toàn quốc.
Biến chứng ở não
- Xuất huyết não: tăng huyết áp dễ dẫn đến tai biến mạch máu não, các mạch máu não dễ vỡ ra vì không chịu được áp lực của dòng đẩy từ máu gây nên tai biến mạch máu não. Lúc này người bệnh có thể bị xuất huyết não gây liệt nửa người hoặc liệt toàn thân, thậm chí tử vong ngay.
- Nhồi màu não, nhũn não: Tăng huyết áp dễ làm hẹp mạch máu nuôi não (tương tự như mạch vành), các mảng xơ vữa bị nứt, vỡ dễ làm hình thành cục máu đông, làm tắc mạch máu não và gây chết một vùng não gọi là nhồi máu não, nhũn não.
- Thiếu máu não: Hẹp động mạch cảnh, động mạch não do tăng huyết áp làm máu bơm lên não không đủ gây ra triệu chứng chóng mặt, hoa mắt, đau đầu, có khi bất tỉnh.
Biến chứng về thận
Tăng huyết áp có thể làm hư màng lọc của các tế bào thận, khiến bệnh nhân đi tiểu ra protein và lâu ngày dẫn đến suy thận. Ngoài ra, tăng huyết áp còn làm hẹp động mạch thận, khiến thận tiết ra nhiều chất renin làm huyết áp cao hơn. Nếu bị hẹp động mạch diễn ra trong thời gian dài sẽ gây ra suy thận.
Biến chứng về mắt
Tăng huyết áp dễ làm tổn thương mạch máu võng mạc, khiến thành động mạch dày và cứng làm hẹp lòng mạch lại, ngoài ra thành mạch bị xơ cứng thì động mạch sẽ chèn ép tĩnh mạch và cản trở tuần hoàn, làm người bệnh có thể bị tổn thương mắt.
6.2 Huyết áp thấp nguy hiểm như thế nào?
So với huyết áp cao thì huyết áp thấp trước mắt không dẫn đến biến chứng cấp cứu như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, đột quỵ..Tuy nhiên, huyết áp thấp kéo dài cũng có thể để lại các biến chứng nguy hiểm không kém. Cụ thể, nếu người bệnh bị tụt huyết áp nhiều lần dẫn đến chức năng hệ thống thần kinh sẽ suy giảm, cơ thể không điều chỉnh kịp thời để cung cấp dinh dưỡng đến các cơ quan như tim, não thận,...dễ làm tổn thương các cơ quan này.
Bên cạnh đó, người bệnh huyết áp thấp có khả năng mất trí nhớ cao hơn và gắn liền với bệnh mất trí do Alzheimer. Các cơ quan trong cơ thể bị thiếu máu trong thời gian dài do huyết áp thấp, não bộ bị thiếu máu nuôi dưỡng, các tế bào thần kinh không được nuôi dưỡng lâu dần sẽ khiến hệ thần kinh suy giảm chức năng dẫn đến suy giảm trí nhớ, đãng trí,..
Huyết áp hạ thấp thường xuyên cũng có thể làm nhịp tim nhanh và gây choáng váng, ngất. Đây là hậu quả điển hình nhất khi huyết áp giảm đột ngột khiến não bộ không kịp thích nghi với tình trạng thiếu oxy bất ngờ. Ngất xỉu dễ gây tai nạn nguy hiểm khi người đang đứng trên cao, điều khiển giao thông hay đi cầu thang. Điều đáng nói, huyết áp thấp cũng là nguyên nhân gây tai biến mạch máu não tương tự như huyết áp cao. Theo thống kê, có đến 30% người bị nhồi máu não là 25% người bị nhồi máu cơ tim do huyết áp thấp gây ra.
Ngoài ra, nếu huyết áp thấp kéo dài và không được điều chỉnh kịp thời còn làm tổn hại đến các cơ quan như thận, gan, tim, phổi,...
7. Làm như thế nào để phòng ngừa và kiểm soát huyết áp?
7.1 Kiểm soát cân nặng
Những người béo phì, thừa cân có nguy cơ cao mắc bệnh huyết áp hơn những người có cân nặng bình thường. Do đó, duy trì cân nặng ở mức hợp lý (chỉ số khối lượng cơ thể BMI từ 18,5 đến 22,9 và vòng bụng không quá 90 cm ở nam giới và 75cm ở nữ giới) là một trong những cách kiểm soát tốt chỉ số huyết áp.
7.2 Xây dựng chế độ ăn uống khoa học
Chế độ ăn uống hàng ngày tác động không nhỏ đến chỉ số huyết áp, do đó tích cực bổ sung các thực phẩm hỗ trợ phòng ngừa và kiểm soát huyết áp như: Rau xanh và trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, các loại cá,....
7.3 Luyện tập thể dục thể thao thường xuyên
Duy trì luyện tập 30 - 60 phút mỗi ngày và 4-5 ngày mỗi tuần không chỉ tăng cường sức khỏe, duy trì cân nặng ở mức hợp lý mà còn giúp bạn tránh xa stress - nguyên nhân khiến huyết áp tăng. Hình thức tập luyện tốt cho sức khỏe như đi bộ, bơi lội, đạp xe, yoga, thiền,...
7.4 Tránh âu lo, căng thẳng
Luôn giữ tinh thần lạc quan, tích cực kết hợp với việc nghỉ ngơi, thư giãn hợp lý là cách phòng ngừa và kiểm soát huyết áp hiệu quả.
Vừa rồi Luật Minh Khuê đã trình bày nội dung về Huyết áp là lực co bóp của? Ở người trưởng thành mỗi chu kỳ tim kéo dài? Hy vọng đây sẽ là những thông tin vô cùng hữu ích đối với quý bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn!