1. Một số mẫu truyện ngụ ngôn chương trình Ngữ Văn 7

1.1. Truyện ngụ ngôn 1: Thầy bói xem voi

Trong một buổi bán hàng ế ẩm, năm ông thầy tướng ngồi nói chuyện, than phiền ko biết con voi trông như thế nào. Cả năm đang tán gẫu thế này, bỗng nghe người ta nói có con voi đi ngang qua. Vì vậy, năm thầy trò đã cùng nhau góp tiền cho người trông coi, điều khiển voi, đồng thời yêu cầu voi ngừng lại để được xem con vật này. Lúc nhìn một con voi, mỗi thầy cô giáo nhìn nó bằng cách chạm vào một bộ phận không giống nhau như vòi, ngà, chân, tai hoặc đuôi. Sau lúc thỏa mãn những thắc mắc của bản thân, năm thầy cô giáo đã ngồi xuống và thảo luận. Cô giáo sờ vào thân cây và nói rằng voi mặt trời giống như một con đỉa. Cô giáo sờ ngà không đồng ý, cho rằng nó giống như một cái cán. Thầy sờ tai phản bác lại ý kiến ​​của hai thầy còn lại, khẳng định con voi như cái quạt thổi cơm. Tới lượt thầy sờ chân và nói rằng con voi như cái cột. Cuối cùng, thầy sờ đuôi tóm gọn câu trả lời của 4 thầy đều sai, con voi có tua như cái thanh hao xỉn màu. Vì cả 5 thầy cô giáo đều cho rằng mình đúng, người nào cũng nghĩ người kia sai nên cả 5 thầy cô giáo đã xô xát, đánh nhau cho tới lúc đứt lìa đầu, chảy nhiều máu.

1.2. Truyện ngụ ngôn 2: Chân, Tay, Tai, Mắt, Mồm

Tập thể bác Tai, lão Miệng cùng cô Mắt, cậu Chân và cậu Tay vẫn hưởng thụ cuộc sống yên bình với nhau từ trước đến nay. Bỗng nhiên, có một ngày cô Mắt than thở với cậu Chân, cậu Tay về việc tất cả đều làm việc mệt nhọc từ ngày này qua ngày khác, chỉ có lão Miệng không làm gì mà ngồi ăn không. Vì vậy cô đã rủ cậu Chân, cậu Tay không làm gì nữa để xem lão Miệng có sống được hay không. Nghe vậy, cậu Chân, cậu Tay cùng đồng thanh lên tiếng, nói rằng cả ba phải đi gặp lão để nói ra quyết định này. Trên đường tìm đến nhà lão Miệng, cả ba đi qua nhà bác Tai nên đã dừng lại và nói cho bác nghe việc mọi người sẽ không làm để cho lão ăn nữa. Cuối cùng, bác Tai đồng ý cùng cô Mắt, cậu Chân, cậu tay tới nhà lão Miệng. Đến nơi, họ không nói lời chào hỏi mà đã thẳng thắn nói ra quyết định từ này sẽ không làm bất cứ việc gì để nuôi lão nữa. Trước những lời nói bất ngờ ấy, lão Miệng rất ngạc nhiên và mong muốn cùng nhau bàn bạc để đưa ra ý kiến chung nhưng không ai đồng ý. Bác Tai, cô Mắt, cậu Chân cùng cậu Tay kiên quyết không bàn bạc thêm gì nữa. Nói xong, tất cả kéo nhau ra về. Một ngày, hai ngày rồi ba ngày, cả bốn đều không chạm vào bất cứ việc gì. Cứ tưởng làm vậy sẽ trở nên nhẹ nhàng thoải mái nhưng sau đó, tất cả trở nên mệt mỏi. Cô Mắt lúc nào cũng lờ đờ, hai mí nặng trĩu như buồn ngủ mà không thể ngủ được. Bác Tai thì trở nên ù ù như có lúa xay ở bên trong. Cậu Chân, cậu Tay đều mệt mỏi nên không muốn cất mình lên chạy nhảy, vui đùa nữa. Nhận ra sai lầm, Bác Tai đã giải thích cho cô Mắt, cậu Chân và cậu tay nghe. Hiểu rõ mọi chuyện, cả bốn đã gượng dậy đi đến nhà lão Miệng. Tới nơi, tình hình lão Miệng cũng không khả quan hơn là bao khi cả hai môi lão nhợt nhạt, hàm răng khô khốc. Thấy vậy, bác Tai và cô Mắt đã vực lão dậy, cậu Chân cùng cậu Tay thì đi kiếm thức ăn. Sau khi lão Miệng được ăn uống bổ sung đầy đủ dưỡng chất, tất cả bọn đều trở nên tỉnh táo và khoan khoái trở lại. Từ đó về sau, lão Miệng, bác Tai, cô Mắt cùng cậu Chân và cậu Tay lại sống hòa thuận và yêu thương nhau, mỗi người đều chăm chỉ làm việc của mình mà không ai tị nạnh ai.

 

1.3. Truyện ngụ ngôn 3: Hai người bạn đồng hành và con gấu

Một buổi sáng nọ, khi đang cùng nhau đi trong lối mòn của rừng cây, hai người bạn bất chợt gặp một chú gấu. Vì chú gấu đột ngột nhảy vồ ra nên đã làm cả hai người không kịp chuẩn bị ẩn nấp. Người bạn đi phía trước may mắn nhìn thấy một cành cây nên đã túm lấy và trèo lên đó, ẩn mình sau những đám lá xum xuê. Người bạn đi sau thấy tình huống trước mặt quá nguy cấp mà bạn lại bỏ mình ở phía dưới nên đã quyết định nằm bẹp xuống đất, vùi mặt vào trong cát. Chú gấu trông thấy có người nằm trên mặt nên đã tiến đến xem xét. Chú ta dùng mõm dí vào tai cậu bé rồi ngửi ngủi nhưng ngửi mãi mà không bắt hơi được thứ gì. Nó tưởng người nằm trên đất đã chết nên đành hú lên một tiếng thật dài rồi lắc đầu bỏ đi. Thấy chú gấu hung dữ kia đã đi xa, người bạn trên cành cây mới từ từ tụt xuống và tiến đến hỏi người bạn của mình: "Ông gấu thì thầm với cậu điều gì đó?". Đứng trước sự việc vừa rồi, người nằm trên đất đã vô cùng thất vọng về bạn mình nên đã đáp lại rằng "Ông ấy bảo tớ rằng, không nên tin vào những kẻ bỏ mặc bạn bè trong cơn hoạn nạn".

 

1.4. Truyện ngụ ngôn 4: Ếch ngồi đáy giếng

Ngày xưa, có một con ếch sống trong một cái giếng nhỏ. Vì sống ở đó lâu nên anh ko biết toàn cầu ngoài kia như thế nào. Xung quanh chỉ có vài con cua, con ốc, con ếch nhỏ… nên anh cho rằng mình là người khỏe nhất. Ếch rất tự hào về sự khôn khéo của mình. Mỗi lúc nó hét lên, cả cái giếng nhỏ đều vang lên, khiến những con vật nhỏ khác cũng phải hoảng sợ. Ếch cho rằng mình rất uy phong. Nhìn lên bầu trời, nó thấy bầu trời chỉ rộng bằng cái vung chứ không cao và rộng như người ta thường đồn đại. Ếch của tôi rất tự hào và cho rằng bầu trời quá nhỏ nhỏ, đáng làm chúa tể. Suy nghĩ đó khiến chú ếch của tôi khinh thường mọi thứ. Trong mắt ếch, không có con nào giống người nào. Vì vậy, một năm trời mưa to, nước trong giếng dâng cao, mang ếch ra ngoài. Quen với dáng vẻ cũ, quen với nếp nghĩ cũ, con ếch chao liệng trên phố, đi đâu cũng như chốn không người. Theo thói quen, anh rón rén tưởng mọi người sợ hãi như ở dưới đáy giếng. Nó ngước mắt lên nhìn nhưng vẫn tưởng bầu trời nhỏ quá nên không quan tâm tới xung quanh. Đột nhiên, trời trở thành tối đen và anh không thể nhìn thấy gì. Một thứ gì đó rất lớn đã chặn tầm nhìn của nó. Nó không biết rằng đó là chân của một con trâu, nên nó đã bị giẫm nát. Đó là kết thúc cuộc đời của một con ếch tự hào. Truyện đã phê phán thói kiêu ngạo, ngạo mạn, hiểu biết hạn chế, khinh thường người khác, đồng thời dạy cho chúng ta bài học về đức tính khiêm tốn, không được chủ quan và luôn phải tìm tòi, học hỏi, mở rộng với những người xung quanh. 

 

1.5. Truyện ngụ ngôn 5: Sư tử, báo và kền kền

Có một câu chuyện ngụ ngôn tên là "Sư tử, báo và kền kền" kể về một con sư tử nhỏ và một con báo. Cả hai bị lạc trong một khu rừng. Trời thì oi bức và cả hai đều khát nước. Do vậy, chúng không thể ngồi đó chờ chết mà quyết định phải đi tìm một nguồn nước nào đó để uống. Chúng đi mãi, đi mãi, cuối cùng cũng tìm thấy một hố nước nhỏ, nhưng khốn nỗi miệng hố lại quá nhỏ hẹp nên chúng không thể cùng uống nước một lúc được. Thế là chúng bắt đấu tranh cãi với nhau rất kịch liệt xem ai là người được uống nước trước. Cuộc tranh giành càng lúc càng gay gắt, quyết liệt, chẵng con nào chịu nhường con nào, vì con nào cũng lo rằng, nếu để cho con kia uống trước thì biết đâu nó sẽ uống hết phần của mình. Lý do thật dễ hiểu ,hố nước chỉ đủ cho mỗi con vài ngụm cho đỡ khát. Cuộc tranh cãi inh ỏi giữa sư tử với báo bị một bầy kền kền bay qua vô tình nghe được. Bầy kền kền cũng đang rất khát nước. Chúng bèn bàn kế với nhau tìm cách lừa sư tử và báo đi chỗ khác. Bàn mưu kế xong, bầy kền kền đồng loạt kêu thất thanh: “Vùng đất này sắp bị sụt lở! Vùng đất này sắp bị sụt lở!”. Nghe tiếng kêu la khủng khiếp của bầy kền kền, sư tử và báo hoảng quá vội bỏ chạy. Thế nhưng, chỉ lát sau, cả sư tử và báo đều cay đắng nhận ra rằng, chẳng hề có chuyện sụt lở đất gì cả. Chúng vội vàng quay lại để uống nước, thì hỡi ôi hố nước đã bị bấy kền kền uống sạch! Lúc này, chúng cảm thấy ân hận vì lòng nhỏ nhen, ích kỷ của mình nhưng đã muộn. Câu chuyện ngụ ngôn thật giản dị nhưng đã để lại cho chúng ta bài học về tính ích kỷ.

 

1.6. Truyện ngụ ngôn 6: Chó sói và chiên con.

Truyện ngụ ngôn “Chó sói và chiên con” kể về con cừu non đáng thương và con sói độc ác. Thấy chiên đang uống nước ở dòng suối, con sói liền tìm cách ăn thịt chiên con. Nó lại gần và thét lên “Sao mày dám cả gan vục mõm làm đục ngầu nước uống của ta? Tội mày phải trị không tha!” Chiên con sửng sốt xin tha và giải thích nơi mình uống nước cách xa suối nguồn phía trên của sói. Nhưng con sói lại tìm cớ khác rằng năm ngoái chiên đã nói xấu nó. Chiên con sợ hãi bèn đáp rằng năm ngoái chiên con vẫn chưa ra đời. Con sói vẫn hung hăng lại tìm ra lí do vô lí khác “Không phải mày thì anh mày đó!” để buộc tội chiên con nhằm ăn thịt bằng được chú chiên nhỏ. Câu chuyện đã nói cho chúng ta biết rằng, nói dối, bịa đặt để thỏa mãn bản thân là hành động xấu xa, tệ hại. Chúng ta tuyệt đối không được làm như sói ác.

 

2. Một số truyện ngụ ngôn khác ngoài chương trình Ngữ Văn 7

2.1. Truyện ngụ ngôn "Kiến và châu chấu"

Một nhóm kiến đang làm việc chăm chỉ suốt mùa hè để chuẩn bị cho mùa đông lạnh lẽo và khắc nghiệt. Trong khi đó, một con châu chấu dành toàn bộ mùa hè để ca hát, làm những việc ngu xuẩn và ngạc nhiên không biết tại sao những con kiến lại làm việc chăm chỉ thế. Khi mùa đông đến, con châu chấu không có gì để ăn và gần như chết đói. Những con kiến cứu anh ta và anh ta đã hiểu ra tại sao kiến lại làm việc chăm chỉ như vậy.
=> Bài học: Quan trọng khi suy nghĩ về phía trước Ngay lúc này, chỉ vì không cần một cái gì đó không có nghĩa là chúng ta nên hoãn lại. Đồng ý việc dành thời gian để tận hưởng những điều thú vị, nhưng không phải lúc nào cũng có những con kiến ẩn dụ như vậy để cứu bạn đâu. Bạn không muốn phải chờ đợi đến mùa đông để mua lò sưởi, chờ đến ngày rồi mới mua vé máy bay, đến ngày nộp bài rồi mới viết bài, hay bắt đầu tiết kiệm tiền quá muộn. Hãy suy nghĩ về phía trước, đừng chần chừ nữa và nhớ là luôn luôn phải chuẩn bị cho những gì sắp xảy ra.

 

2.2. Truyện ngụ ngôn "Con quạ và cái bình nước"

Vào một ngày mùa hè nóng bức bất thường, một con quạ đang bay để tìm nước. Nó tình cờ tìm thấy một bình nước, nhưng khi cố gắng đặt mỏ vào bình để uống nước thì không thể nào với được nước ở bên trong. Nó cố và cố, từ từ với tới để lấy nước. Khi đã sẵn sàng từ bỏ và chấp nhận số phận, nó đã nảy ra một ý tưởng: thả những viên sỏi nhỏ vào trong bình cho đến khi mực nước dâng lên đến nơi mà nó có thể với tới được.
=> Bài học: Đừng bỏ cuộc khi mọi thứ có vẻ tệ đi Có chí thì nên. Sự kiên trì là chìa khóa để giải quyết bất kỳ vấn đề nào vì cuối cùng, dù cho tình hình có nghiêm trọng đi chăng nữa, thì bạn cũng sẽ tìm thấy một giải pháp. Chỉ cần một vài lần lặp lại, ý tưởng của bạn có lẽ sẽ không tệ như bạn nghĩ. Bất cứ điều gì bạn muốn làm, chỉ cần cần cù. Như Wayne Gretzky đã từng nói: “Bạn bỏ lỡ 100% cơ hội nếu như bạn không cho mình cơ hội.”

 

2.3. Truyện ngụ ngôn "Con muỗi và con bò đực"

Một con muỗi đang bay xung quanh một bãi cỏ và cuối cùng quyết định nghỉ ngơi trên sừng của một con bò đực. Sau khi nghỉ ngơi, con muỗi quyết định rời đi. Trước khi đi, con muỗi đã cầu xin sự tha thứ của bò đực vì đã dùng sừng của bò để làm nơi nghỉ ngơi. Con muỗi tỏ ra rằng chắc là bò đực mừng lắm khi nó rời đi, nhưng bò đực đã trả lời: "Chẳng sao cả. Tôi thậm chí không biết anh đã ở đó".
=> Bài học: Chắc chắn bạn sẽ không quan trọng như bạn nghĩ Chúng ta thường coi mình quan trọng hơn trong mắt người khác. Không phải nói bạn tầm thường, nhưng những thứ ích kỷ mà bạn nói và làm có thể làm cho bạn trông như một thằng hề. Con muỗi cố gắng tỏ ra lịch sự, nhưng thực sự nó chỉ cố gắng thể hiện sự tồn tại của mình. Bạn có thể nghĩ rằng mình là linh hồn của buổi tiệc, chắc chắn không thể rồi. Chỉ cần là chính mình thì bạn sẽ không là một con muỗi.

 

3. Cách làm bài văn kể lại một truyện ngụ ngôn Ngữ văn 7

 

Để viết (hoặc nói) một bài kể lại truyện ngụ ngôn đạt yêu cầu chương trình Ngữ văn 7 theo định hướng phát triển năng lực, học sinh không chỉ cần nhớ cốt truyện mà còn phải giải mã được bài học triết lý ẩn sau câu chuyện. Bài kể phải vừa sinh động, vừa thể hiện được suy nghĩ của người kể. Dưới đây là hướng dẫn cụ thể, dễ hiểu và thực hành hiệu quả theo 5 bước cơ bản:

Bước 1. Chọn truyện và xác định lý do lựa chọn

Học sinh cần tự chọn một truyện ngụ ngôn mà mình yêu thích hoặc đã đọc trong chương trình (ví dụ: Ếch ngồi đáy giếng, Thầy bói xem voi, Rùa và Thỏ, Bó đũa…).
Sau đó, nêu lý do chọn truyện, gắn với bài học đạo đức mà câu chuyện muốn truyền tải, chẳng hạn: “Em chọn truyện Rùa và Thỏ vì câu chuyện dạy em bài học quý giá về tính kiên trì và khiêm tốn.”

Mục tiêu: Giúp học sinh định hướng được triết lý sống sẽ triển khai trong bài kể.

Bước 2. Tóm tắt và phân tích cốt truyện – nhân vật biểu tượng

Khi kể lại, học sinh không cần trình bày toàn bộ chi tiết mà chỉ chọn những tình tiết chính, gắn với hành động hoặc thái độ thể hiện triết lý.
Đồng thời, cần hiểu nhân vật mang tính biểu tượng:

  • Rùa tượng trưng cho sự kiên trì, bền bỉ.
  • Thỏ tượng trưng cho sự chủ quan, kiêu ngạo.
  • Bó đũa tượng trưng cho sức mạnh của đoàn kết.

Mục tiêu: Nhận diện tầng nghĩa sâu hơn của truyện — không chỉ là kể “chuyện loài vật”, mà là kể “chuyện con người”.

Bước 3. Giải mã bài học triết lý của truyện

Đây là phần quan trọng nhất. Học sinh cần trả lời câu hỏi:

  • “Truyện này muốn dạy điều gì?”
  • “Nếu nhân vật hành xử khác đi, kết quả sẽ ra sao?”
  • “Bài học đó có thể áp dụng vào đời sống hiện nay như thế nào?”

Từ đó, rút ra triết lý sống cô đọng – nên trình bày bằng một câu ngắn gọn, dễ nhớ, ví dụ:

  • “Kiêu ngạo khiến con người thất bại.”
  • “Đoàn kết tạo nên sức mạnh.”
  • “Tham lam sẽ khiến ta mất tất cả.”

Mục tiêu: Biến câu chuyện thành một bài học đạo đức có tính thuyết phục, thay vì chỉ là kể lại sự kiện.

Bước 4. Viết hoặc trình bày bài kể theo cấu trúc chuẩn

Bài kể lại truyện ngụ ngôn cần có bố cục rõ ràng, súc tích và tập trung thể hiện triết lý cốt lõi:

Mở bài (Đặt vấn đề):

  • Giới thiệu tên truyện, nguồn gốc (nếu có).
  • Nêu triết lý sống mà câu chuyện thể hiện.

→ Ví dụ: “Truyện ngụ ngôn Rùa và Thỏ không chỉ kể về một cuộc đua thú vị mà còn dạy con người bài học sâu sắc: đừng bao giờ chủ quan trong cuộc sống.”

Thân bài (Giải quyết vấn đề):

  • Kể lại cốt truyện ngắn gọn, chỉ chọn các chi tiết tiêu biểu làm nổi bật triết lý.
  • Có thể xen lẫn cảm xúc hoặc lời bình để thể hiện sự hiểu biết của người kể.

→ Ví dụ: “Thỏ chủ quan nên ngủ quên giữa đường, trong khi Rùa chậm rãi nhưng không bỏ cuộc. Sự kiên trì ấy đã giúp Rùa chiến thắng.”

Kết bài (Chốt lại vấn đề):

  • Nêu lại bài học triết lý bằng một câu ngắn gọn, súc tích.
  • Liên hệ thực tế với bản thân hoặc cuộc sống xung quanh.

→ Ví dụ: “Câu chuyện khiến em hiểu rằng trong học tập, chỉ có chăm chỉ và bền bỉ mới giúp ta đạt được thành công.”

Mục tiêu: Rèn cho học sinh kỹ năng tổ chức bài nói/bài viết mạch lạc, thể hiện được tư duy triết lý qua ngôn ngữ súc tích.

Bước 5. Diễn đạt sinh động và liên hệ thực tiễn

Khi trình bày (nói hoặc viết), học sinh cần:

  • Sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, ẩn dụ, ngắn gọn.
  • Tránh kể dông dài hoặc lặp lại chi tiết nhỏ không cần thiết.
  • Thể hiện cảm xúc tự nhiên, có thể dùng cử chỉ, ánh mắt (khi nói).
  • Kết thúc bằng liên hệ bản thân: “Em sẽ học theo đức tính kiên trì của Rùa trong quá trình học tập.”

Mục tiêu: Giúp học sinh không chỉ kể lại truyện mà còn “sống” cùng triết lý trong truyện.

Cách làm bài văn kể lại truyện ngụ ngôn Ngữ văn 7 không chỉ là việc nhớ truyện mà là hiểu truyện – kể chuyện – rút ra triết lý – áp dụng vào đời sống. Khi học sinh làm được điều đó, bài kể của các em sẽ trở nên sinh động, sâu sắc và mang giá trị giáo dục đích thực.