1. Lý do cần khắc phục các hạn chế về kỹ thuật lập pháp
Xét về mặt kỹ thuật lập pháp, xuất phát từ việc Bộ luật Hình sự năm 2015 còn tồn tại nhiều khiếm khuyết, nhiều quy định chưa đáp ứng được đầy đủ tất cả 05 tiêu chí cơ bản, tối thiểu và bắt buộc chung của một văn bản lập pháp hình sự ưu việt (nhất là ba tiêu chí cơ bản cần phải được bảo đảm tốt hơn cả như: chặt chẽ về mặt cấu trúc, nhất quán về mặt logic pháp lý và, chính xác về mặt khoa học).
Sau khi phân tích nội hàm các quy phạm, tác giả nhận định có những hạn chế về kỹ thuật lập pháp. Trong đó hai chế định lớn về đạo luật hình sự và trách nhiệm hình sự có nhiều hạn chế hơn cả, đơn cử như “chưa nghĩ ra được nội hàm của rất nhiều vấn đề liên quan đến chế định lớn về trách nhiệm hình sự”, hay “thiếu rất nhiều định nghĩa pháp lý tương ứng với nhiều khái niệm cơ bản có ý nghĩa to lớn và rất quan trọng về mặt nhận thức – khoa học, cũng như thực tiễn”…
2. Một số ví dụ về hạn chế của kỹ thuật lập pháp
- Do Bộ luật Hình sự năm 2015 không có Điều “Giải thích các thuật ngữ”. Vì Điều luật này có tác dụng để xác định rõ nội hàm của một số thuật ngữ rất quan trọng và thậm chí các thuật ngữ này lại có mối liên hệ khăng khít với nhau nên thiếu đi tiêu chí khả thi về mặt thực tiễn.
- Hiện nay các nhà làm luật đang công tác tại các cơ quan, tổ chức khác nhau như: các cơ quan bảo vệ pháp luật, các Tòa án, các đoàn luật sư tại các địa phương, các Trường Đại học và các Viện nghiên cứu khoa học,…) vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau xung quanh một loạt vấn đề về pháp nhân thương mại phạm tội nhưng chưa đưa ra sự giải thích thống nhất và chính thức. Cụ thể:
+ Một số thuật ngữ trong Bộ luật Hình sự năm 2015 như “pháp nhân thương mại phạm tội” (khoản 2 Điều 2, khoản 2 Điều 3, các điều từ 74 đến 89), “pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý” (khoản 1 Điều 8) hay pháp nhân thương mại phạm tội (tại 33 cấu thành tội phạm mà pháp nhân thương mại bị coi là chủ thể của tội phạm như các điều 188 - 196, 209 - 213, 225 - 227, 235 - 239, 242 - 246, v.v.) sẽ được hiểu như thế nào cho đúng để bảo đảm được tính chính xác về mặt khoa học và có sức thuyết phục đối vối thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong một loạt các trường hợp mà pháp nhân thương mại đã để cho người đại diện hay được ủy quyền phạm tội?
Liệu pháp nhân nói chung và pháp nhân thương mại nói riêng (khi chúng không phải là một thực thể sinh học, không có bộ óc để suy nghĩ, không có mắt để nhìn, tai để nghe, không có chân để đi lại và không có tay để cầm súng bắn, v.v.) có thể thực hiện tội phạm được hay không? (như: dùng tay cầm vô lăng lái xe tải đổ chất thải bẩn xuống sông theo Điều 242 hay cầm dao chặt phá rừng theo Điều 243). Câu trả lời chắc chắn 100% là không thể được.
Như vậy, các hành vi nêu trên là do chính cá nhân cụ thể nào đó (với đầy đủ các điều kiện trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 và từ đây sẽ gọi tắt cho ngắn gọn là “người đại diện cho pháp nhân”) thực hiện. Qua đó, cho thấy một sự thật rõ ràng và logic là pháp nhân thương mại chỉ phải liên đới chịu trách nhiệm hình sự cùng với cá nhân vì đã để cho cá nhân đó thực hiện tội phạm với những điều kiện như “nhân danh pháp nhân thương mại”, “vì lợi ích của pháp nhân thương mại” và “có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại” (theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Do đó, về mặt kỹ thuật lập pháp, để truy cứu được trách nhiệm hình sự đối với chính pháp nhân thương mại (chứ không phải là “người đại diện cho pháp nhân” phạm tội vì trách nhiệm hình sự đốì với chủ thể này cũng chính là trách nhiệm hình sự đối vối “cá nhân” phạm tội) chắc chắn là cần phải có điều luật về giải thích các thuật ngữ trong Bộ luật Hình sự.
Có thể thấy, chưa cần tính đến nội hàm của một loạt các thuật ngữ (khái niệm) quan trọng khác trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn chưa có (trong khi rất cần có) sự giải thích chính thức về mặt lập pháp của nhà làm luật (hoặc sự hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự (như: “Chịu trách nhiệm hình sự”, “Hành vi phạm tội”, “Pháp nhân phạm tội”, “Pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự”, “Miễn trách nhiệm hình sự”, “Miễn hình phạt”,… và một loạt định nghĩa pháp lý khác).
Bởi vậy, chính những điều được phân tích trên đây là minh chứng xác đáng nhất của sự bất cập trong hệ thống pháp luật hình sự thực định hiện hành nên rõ ràng trong lần pháp điển hóa thứ tư tới đây nhà làm luật nên bổ sung thêm Điều luật “Giải thích các thuật ngữ’ trong Bộ luật Hình sự tương lai để cho tương ứng với hệ thông pháp luật tố tụng hình sự thực định.Vì không vì lý do gì mà pháp luật tố tụng hình sự thực định nước nhà cũng qua ba lần pháp điển hóa (năm 1988, 2003 và 2015) nhưng chỉ sau 15 năm, bắt đầu từ lần thứ hai (trong Bộ luật Tố tụng hình sự (năm 2003)) và tiếp theo sau đó, đến lần thứ ba (trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) đã có Điều luật “Giải thích các thuật ngữ”, mà pháp luật hình sự thực định đã 35 năm (1985-2020) mà trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn chưa có Điều luật “Giải thích các thuật ngữ”.
3. Nhu cầu cần hoàn thiện kỹ thuật lập pháp đặt ra trong thực tiễn
Các nhược điểm về kỹ thuật lập pháp của hệ thống Bộ luật Hình sự năm 2015 đã phân tích ở trên cho thấy thực tiễn tư pháp hình sự nói chung và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nói riêng trong suốt thời gian qua, các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trên toàn quốc vẫn chưa hề truy cứu được trách nhiệm hình sự bất kỳ một pháp nhân thương mại phạm tội nào.
Chính vì vậy, về mặt thực tiễn nếu như trong Dự thảo Phần chung Bộ luật Hình sự tương lai mà nhà làm luật Việt Nam chưa khắc phục được những nhược điểm cơ bản về kỹ thuật lập pháp đã nêu thì cũng rất khó có thể truy cứu trách nhiệm hình sự được đối vối các pháp nhân thương mại phạm tội. Nói chính xác hơn là truy cứu trách nhiệm hình sự đối vối các pháp nhân thương mại vì đã có sự liên đới trong việc phạm tội của cá nhân có đầy đủ những điều kiện được ghi nhận tại khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đặc biệt, sự cần thiết cấp bách của nhu cầu về mặt thực tiễn trong việc cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống phốp luật hình sự thực định là ỏ chỗ:
1) Trong quá trình soạn thảo các bộ luật Hình sự cần có sự nhận thức khoa học đúng đắn là: một khi hệ thống pháp luật hình sự thực định khoa học và hoàn chỉnh (với đầy đủ các quy phạm có liên quan) thì đây chính là vũ khí pháp lý sắc bén được trang bị cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Bởi nó có đầy đủ các căn cứ pháp lý để phòng và chống tội phạm có hiệu quả. Chỉ như vậy mới có thể truy cứu được trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại có liên đới trong việc phạm tội của cá nhân;
2) Còn ngược lại, nếu một hệ thống pháp luật hình sự thực định khập khiễng vì có nhiều “kẽ hở” do những thiếu sót về kỹ thuật lập pháp đối vối các quy phạm có liên quan (bao gồm cả các quy phạm về trách nhiệm hình sự của pháp nhân) thì các cơ quan thực tiễn căn cứ vào đâu để truy cứu được trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phạm tội;
3) Trong khi đó ở Việt Nam hiện nay trình độ chuyên môn của các luật sư đã được nâng cao lên rất nhiều. Vì am hiểu sâu những “kẽ hở”, thiếu sót của các quy phạm pháp luật hình sự hiện hành và của các phạm trù có liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại mà pháp luật hình sự hiện hành chưa bổ sung, nên khi tranh tụng dân chủ tại những phiên tòa hình sự các luật sư giỏi thường “bắt bẻ” các cơ quan tiến hành tố tụng từng câu, từng chữ trong từng quy phạm pháp luật hình sự có liên quan. Cho nên, lúc đó, trưóc công luận tham gia phiên tòa, bên buộc tội khó có lập luận hợp lý để tranh luận.
4. Các định hướng hoàn thiện chủ yếu về kỹ thuật lập pháp
Trên cơ sở phân tích các nhu cầu cơ bản trên đây, vấn đề tiếp tục hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp hệ thống Phần chung pháp luật hình sự thực định (tức Bộ luật Hình sự năm 2015) hiện hành cần được xác định theo hướng nào?
Có thể xung quanh vấn đề này có nhiều cách tiếp cận với nhiều quan điểm đa dạng khác nhau và ở nhiều phạm vi khác nhau (như: dựa trên những cơ sỏ khoa học - thực tiễn hoặc dựa trên những tiền đề nhất định,...). Chính sự đa dạng của các quan điểm đó mới làm cho khoa học trở thành chân chính. Khoa học mà trong đó chân lý không thể là sự độc quyền của một cá nhân (hay nhóm người) có thế lực về chính trị hay kinh tế nào, mà chân lý khoa học là ở chỗ quan điểm được đưa ra đó có dựa trên các luận chứng bảo đảm được sức thuyết phục hay không.
Do đó, để bảo đảm tốt 05 tiêu chí cơ bản, bắt buộc và được thừa nhận chung về kỹ thuật lập pháp của một văn bản lập pháp hình sự của nhà nước pháp quyền đã được soạn thảo trong khoa học luật hình sự Việt Nam thời gian qua thì theo tác giả, có thể chỉ ra triển vọng hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp (cả về nội hàm và cấu trúc) đối với hệ thống Phần chung pháp luật hình sự thực định Việt Nam hiện hành. Tạo nên được một hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự thực định sau pháp điển hóa lần thứ tư trong Phần chung Bộ luật Hình sự tương lai của nước ta sẽ có được sự cân đốĩ logic khoa học theo 05 định hướng được xác định.
5. Kết luận vấn đề
Như vậy, các nghiên cứu về kỹ thuật lập pháp hình sự như đã nêu ở trên là vô cùng đa dạng, phong phú và phức tạp. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu về kỹ thuật lập pháp hình sự và cũng do sự hạn chế bởi phạm vi nghiên cứu nên ở đây tác giả không thể nào đề cập được tất cả các khía cạnh của phạm trù kỹ thuật lập pháp hình sự, mà chỉ có thể bàn đến dưới góc độ kỹ thuật lập pháp đối với hệ thống các quy phạm Phần chung và chưa thể bàn đến kỹ thuật lập pháp đối với hệ thống các quy phạm Phần riêng.
Trân trọng!