1. Cơ cấu xã hội - nghề nghiệp là gì ?

Cơ cấu nghề nghiệp xã hội được thể hiện ở số lượng các ngành nghề trong khu vực dân cư, tỉ lệ giữa ngành nghề và tỉ lệ trong nội bộ ngành nghề.

Cơ cấu nghề nghiệp có các đặc trưng cơ bản sau:

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2015, tỉ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động tại Việt Nam khoảng 2,36%. Những người thất nghiệp ở đô thị chủ yếu rơi vào nhóm không có chuyên môn kĩ thuật, bên cạnh đó là sự mất cân đối về chất lượng, cấp độ đào tạo và nhóm ngành nghề đào tạo. Ở nông thôn, do diện tích đất đai bị thu hẹp, chậm đổi mới vật nuôi và cây trồng, cơ cấu kinh tế không hợp lý, lao động qua đào tạo chiếm tỉ lệ cao. Thất nghiệp cũng là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tội phạm và các tệ nạn xã hội.

Cơ cấu xã hội - nghề nghiệp: Nó là hệ quả của sự phát triển sản xuất, sự phát triển ngành nghề và phân công lao động xã hội. Nghiên cứu cơ cấu xã hội - nghề nghiệp là tập trung nhận diện thực trạng cơ cấu, tỷ trọng các ngành nghề, những đặc trưng, xu hướng và sự tác động qua lại lẫn nhau của các ngành nghề cũng như sự biến đổi, thay đổi ngành nghề của một xã hội nhất định. Trong xã hội hiện đại người ta thường tập trung nghiên cứu lực lượng lao động cũng như các ngành nghề cụ thể của lao động công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và một số ngành nghề đặc thù khác; đồng thời, người ta cũng nghiên cứu cơ cấu lao động theo giới tính, lứa tuổi, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ…

Ngoài ra, người ta cũng tiếp cận nghiên cứu cơ cấu xã hội - nghề nghiệp dưới góc độ phân tích lực lượng lao động theo lãnh thổ, vùng, miền, khu vực kinh tế xã hội; theo lao động trong các khu vực, thành phần kinh tế khác nhau; theo lao động trong khu vực kinh tế kết cấu hay kinh tế phi kết cấu; theo độ tuổi người lao động cũng như mức độ có việc làm và thất nghiệp của người lao động. Điều cơ bản là qua nghiên cứu thực trạng cơ cấu xã hội - nghề nghiệp là để nhận diện sự biến đổi của nó và tác động của sự biến đổi ấy đến cơ cấu xã hội, đến đời sống xã hội và ngược lại. Qua đó có thể dự báo xu hướng vận động và biến đổi của cơ cấu xã hội nghề nghiệp nói riêng và biến đổi cơ cấu xã hội nói chung.

 

2. Quan hệ pháp luật trong cơ cấu xã hội - nghề nghiệp

Nghiên cứu về vấn đề pháp luật trong cơ cấu xã hội - nghề nghiệp tập trung vào việc đánh giá thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế, cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ... theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với quá trình đô thị hóa, nghiên cứu về vấn đề lao động, việc làm... trên cơ sở đó sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật cho phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt mục tiêu đề ra và định hướng phát triển việc làm để bảo đảm việc làm cho người lao động.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển, trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại. Trong những năm qua, các quy định của pháp luật về kinh tế lại có nét đặc thù riêng. Khi nói đến phân tầng xã hội, các nhà xã hội học đề cập bất bình đẳng như là một yếu tố cơ bản dẫn đến phân tầng xã hội. Sự bất bình đẳng ở đây được hiểu là sự không ngang bằng nhau giữa các cá nhân, các nhóm xã hội về thể chất, trí tuệ, điều kiện, cơ may trong cuộc sống.

Phân tầng xã hội về mặt kinh tế được đo lường qua các chỉ báo về mức thu nhập bình quân đầu người và mức chi tiêu bình quân, đặc biệt là khoảng cách hay sự chênh lệch về thu nhập và chi tiêu giữa nhóm 20% giàu nhất với nhóm 20% nghèo nhất. Ngoài các thước đo về kinh tế, sự phân tầng xã hội có thể biểu hiện qua trình độ học vấn, tỉ lệ đi học, mức độ tiếp cận y tế, mức độ tham gia lãnh đạo, quản lý xã hội.

Phân tầng xã hội được phân loại bao gồm: Hệ thống phân tầng đóng và hệ thống phân tầng mở. Hệ thống phân tạng đóng đặc trưng cho xã hội đẳng cấp, trong hệ thống này ranh giới giữa các tầng xã hội rõ rệt và được duy trì một cách vững chắc. Vị trí của cá nhân hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn gốc xuất thân chứ không phải căn cứ vào những gì đạt được trong suốt cuộc đời của cá nhân đó. Xã hội điển hình cho hệ thống đóng là xã hội Ấn Độ truyền thống, cơ cấu đẳng cấp được phân chia thành 4 loại: Brahmin (giáo sĩ); Kyshtriya (chiến binh và quan lại); Vaisya (nhà buôn và nông dân); Sudra (thợ thủ công và đầy tớ). Theo ý thức của họ thì sự thuần khiết đẳng cấp chỉ có thể được vẹn toàn khi tránh tiếp xúc với những người thuộc các đẳng cấp khác, nó quy định mức độ mà một cá nhân tham gia vào một hoạt động hay vào một mối quan hệ xã hội nhất định nào đó.

Theo Marx, trong mọi xã hội quá khứ hay hiện tại đều có sự bất bình đẳng trong việc phân phối của cải, từ đó đưa đến một thế mất cân bằng giữa đa số (người không có tài sản) với người thiểu số (nắm trong tay toàn bộ tài sản). Sự mất cân bằng ấy làm phát sinh cuộc đấu tranh tạo ra sự biến đổi trong xã hội. Trong xã hội công nghiệp, quyền sở hữu về công cụ sản xuất vừa dẫn đến việc giai cấp tư sản áp bức giai cấp vô sản, vừa dẫn đến việc tăng cường đội ngũ giai cấp vô sản. Khi giai cấp vô sản nhận thức được vai trò lịch sử của mình, họ đứng lên đấu tranh giành lại chính quyền. Người ta nói rằng, tương ứng với từng giai đoạn phát triển của lịch sử là một quá trình biện chứng, qua đó hệ thống sản xuất làm phát sinh một giai cấp thống trị, đồng thời tạo nên những điều kiện để giai cấp bị trị tiến lên, chính giai cấp bị trị đó sẽ cướp chính quyền trong giai đoạn tiếp theo. Vậy theo Marx tiêu chuẩn chính của sự phân tầng đó là kinh tế và những người có các phương tiện kinh tế cũng có cả quyền lực và uy tín.

- Quan điểm của Max Weber cho rằng, học thuyết của Marx có ích trong một lĩnh vực nhất định nhưng lại quá giản đơn vì nó chỉ chú ý đến một mặt của thực tiễn xã hội là yếu tố kinh tế. Đó không phải là những đặc điểm cơ bản duy nhất của các hệ thống phân tầng trong xã hội hiện đại. Ồng đưa ra nguyên tắc về sự tiếp cận ba chiều đối với vấn đề phân tầng xã hội, ông cũng coi sự phân tầng xã hội bao gồm cả việc phân chia xã hội thành giai cấp. Sự phân tầng xã hội dựa trên ba yếu tố là: địa vị kinh tế hay là tài sản, địa vị chính trị hay là quyền lực, địa vị xã hội hay là uy tín. Ba yếu tố này có thể độc lập song có quan hệ mật thiết với nhau.

Nó là công cụ để nhà nước điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ và trợ giúp các đối tượng dễ bị tổn thương. Do đó, nghiên cứu đánh giá thực trạng của phân tầng xã hội và vấn đề nảy sinh từ phân tầng xã hội để trên cơ sở đó nhà nước ban hành pháp luật phù hợp nhằm định hướng và điều chỉnh cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội theo hướng phát triển bền vững, làm tăng tính cơ động xã hội, và sự phân công lao động xã hội một cách hợp lý, hạn chế những tác động tiêu cực của phân tầng xã hội đối với phát triển xã hội.

Tạo hành lang pháp lý cần thiết đảm bảo môi trường xã hội dân chủ, công khai, minh bạch, làm cho các cá nhân, các thành phần kinh tế, các tầng lớp xã hội cạnh tranh lành mạnh, có cơ hội bình đẳng để phát huy tài năng, trí tuệ, vươn lên làm giàu, tham gia vào quản lý xã hội, tự khẳng định mình.

Có chính sách, pháp luật về an sinh xã hội cho các đối tượng thu nhập thấp, các nhóm xã hội “yếu thế”, đồng bào miền núi, vùng dân tộc, nông thôn, vùng sâu, vùng xa... phù họp với điều kiện và khả năng của nền kinh tế. Tiến hành nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của hoạt động thực hiện chính sách, pháp luật để đảm bảo nó được thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đúng đối tượng mang lại công bằng xã hội và an sinh xã hội.

Mặt khác, các nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về phân tầng xã hội, phân hóa giai cấp, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội... cung cấp dữ liệu khoa học dự báo xu hướng của tình hình, đề xuất các quan điểm và giải pháp trước mắt và lâu dài cho hoạch định chiến lược phát triển xã hội và quản lý xã hội ở nước ta ttong thời kì đổi mới, hội nhập quốc tế.

Luật Minh Khuê (tổng hợp)