1. Khái niệm về thanh niên và xã hội học thanh niên

Cho đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “thanh niên”, theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì cụm từ “ thanh niên” được hiểu là "người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành".

Định nghĩa của từ điển ngôn ngữ mới chỉ ra được những cách hiểu thông thưởng về “thanh niên”, vì thể còn thiếu tính chặt chẽ. Do đó, cách hiểu như trên khó có thể được xem như công cụ phân tích khi nghiên cứu về thanh niên, dù được tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành hay liên ngành.

Khái niệm về thanh niên hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất ở nhiều nước trên thế giới chẳng hạn như ở Nepal từ 10 tuổi người ta đã được coi như thanh niên, còn ở Ấn Độ thì giới hạn kết thúc tuổi thanh niên là 35 tuổi

Ở Việt Nam trong Luật thanh niên năm 2020 quy định tại Điều 1: Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi.

Theo tác giả Phạm Hồng Tung: Thanh niên là một bộ phận phức hợp của dân cư một quốc gia - dân tộc bao gồm tất cả các cá thể ở trong độ tuổi từ 15 đến 29.

Dù được tiếp cận ở góc độ nào thì cho đến nay các trường phái nghiên cứu về thanh niên đều nhất trí với nhau ở một điểm trong khi nghiên cứu khái niệm “thanh niên” với ý nghĩa là một nhóm xã hội - dân cư đó là: Thanh niên là một nhóm xã hội - dân cư bao gồm tất cả những thành viên trong một xã hội cụ thể đang ở trong độ tuổi thanh niên.

Như vậy, theo các định nghĩa này cho thấy bộ phận dân cư được gọi là “thanh niên” này chỉ phân biệt một cách tương đối với các bộ phận dân cư khác của quốc gia - dân tộc ấy trên một tiêu chí duy nhất là giới hạn độ tuổi. Đường ranh giới của nhóm dân cư “thanh niên” vởi các nhóm khác rất mong manh, bởi lẽ các thành viên của nhóm liên tục vào ở đầu này và ra ở đầu kia do quy luật vận động tự nhiên cùa sự “lớn lên” hay “già đi” của các thành viên. Và điều này cho thấy “thanh niên” là một nhóm xã hội - dân cư “động” chứ không phải là một nhóm “tĩnh”, ổn định.

Với tính cách là một nhóm xã hội - dân cư, “thanh niên” không chỉ “động” và phức hợp xét theo chiều dọc mà còn hết sức phức hợp theo chiều phẳng ngang, bởi lẽ nó hàm chứa trong đó những cá thể ở độ tuổi thanh niên có nguồn gốc xuất thân khác nhau, thuộc mọi giai tầng trong xã hội, với các trình độ học vấn, tôn giáo, sắc tộc, giới tính, thành thị và nông thôn và với nhiều ngành nghề khác nhau,...

Hơn nữa, xét về độ tuổi thì nhóm xã hội - dân cư “thanh niên” cũng chỉ là một nhóm lớn, bao gồm trong đó nhiều nhóm nhỏ thuộc các độ tuổi thanh niên khác nhau như: độ tuổi 15-17, 18-24, 25-30 tuổi ( ở đây giới hạn tuổi thanh niên đến 30 tuổi, nhưng có tác giả lại giới hạn tuổi thanh niên đến 34 tuổi). Mỗi độ tuổi ngoài đặc điểm chung còn những đặc điểm riêng.

Ngoài tiêu chí độ tuổi, nhóm xã hội - dân cư “thanh niên” còn có thể được chia thành các tiểu nhóm khác nhau dựa trên những tiêu chí khác như: thành thị, nông thôn, miền núi (theo địa bàn cư trú), hay chia theo ngành nghề.

Qua đó có thể thấy “thanh niên” là một nhóm xã hội - dân cư có tính phức tạp rẩt cao, hàm chứa trong đó nhiều sự đa dạng về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, địa bàn cư trú, định hướng giá trị, lợi ích, nhu cầu,...

2. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học thanh niên

Xã hội học thanh niên là một chuyên ngành của xã hội học. Nó vừa tuân thủ những nguyên tắc chung nhất của xã hội học, vừa quy chiếu những nguyên tắc này vào lĩnh vực nghiên cứu của đối tượng thanh niên. Bởi vậy, chỉ có thể xác định được một cách chính xác và khoa học về đối tượng nghiên cứu của xã hội học thanh niên, nếu xác định rõ được đối tượng nghiên cứu của xã hội học.

Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu của xã hội học, đối với việc nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội về thanh niên trong đó có xã hội học thanh niên thì gần như tất cả các hướng nghiên cứu về thanh niên đều là nghiên cứu mở. Tuy nhiên, một số nhà khoa học khi nghiên C1.TU đã tổng hợp lại thành 3 hệ thống vấn đề lớn cần được nghiên cứu về thanh niên:

  • Thứ nhất là nghiên cứu vị trí, vai trò của thanh niên cũng như vấn đề thanh niên trong sự vận động và phát triển của đất nước, mối quan hệ giữa vấn đề thanh niên với những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,... và ngược lại, ảnh hưởng của những vấn đề trên tới nhận thức và hành động của thanh niên.
  • Nghiên cứu bản thân vấn đề thanh niên như: tâm lý, tâm trạng, nhu cầu, hành vi,... của thanh niên

- Nghiên cứu những hoạt động của phong trào thanh niên, các tổ chức thanh niên trong quá trình đoàn kết, tập hợp thanh niên, vai trò của các cơ quan, chính quyền, đoàn thể, cộng đồng và gia đình trong viên quan tâm, chăm sóc, rèn luyện, giáo dục thanh niên theo sự phát triển của xã hội.

Trên cơ sở nghiên cứu về thanh niên các nhà khoa học cho rằng: Đối tượng nghiên cứu của xã hội học thanh niên là những lĩnh vực liên quan đến vị trí, vai trò của thanh niên, mối quan hệ giữa sự vận đồng và phát triển của vấn để thanh niên so với sự vận đồng và phát triển chung của xã hội, cũng như nội hàm cùa những vấn để thanh niên trong dạng thức tương đối độc lập của nó

3. Vị trí, vai trò của thanh niên

Thời đại nào cũng vậy, thanh niên luôn có vị thế, vai trò quan trọng trong cơ cẩu tồn tại và vận hành của xã hội.

Vị thế là khái niệm chỉ vị trí xã hội của một cá nhân hay một nhóm xã hội trong cơ cấu của xã hội. Trong cơ cấu xã hội, vị thế của một cá nhân hay một nhóm xã hội bao gồm địa vị xã hội mà nó nắm giữ, những quyền lợi và nghĩa vụ mà nó đảm trách để đảm bảo việc duy trì sự ổn định của cơ cấu.

Vai trò là khái niệm chỉ các khuôn mẫu, các chuẩn mực hoạt động và hành vi, các phương thức hành xử của cá nhân hoặc nhom xã hội tương ứng với vị thế của cá nhân hoặc nhóm xã hội nói trên. Ở đầy, vai trò gắn liền với chức năng, nhiệm vụ. Sự duy trì những khuôn mẫu và chuẩn mực hành động tương xứng với vai trò là yếu tố quan trọng đảm bảo sự vận hành ổn định của cơ cấu.

Như vậy, vị thế là trạng thái tĩnh trong địa vị xã hội của cá nhân hay nhóm xã hội, nó là sự định vị chỗ đứng của cá nhân hay nhóm xã hội đó trong cơ cấu xã hội.

Vai trò là trạng thái động trong địa vị xã hội của cá nhân hay nhóm xã hội, nó khẳng định chức năng hoạt động của cá nhân hay nhóm xã hội đó trong sự vận hành của xã hội.

Qua quá trình nghiên cứu cho thấy, sự nhận dạng và phân tích về vị thế và vai trò của thanh niên được tiếp cận theo hướng cơ cấu chức năng đòi hỏi phải phân tích thanh niên trước hết như một nhóm cơ cấu nhân khẩu học của xã hội. Trên phương diện này, về mặt vị thế cần phải đo lường được các mặt thống kê học giữa nhóm cơ cấu nhân khẩu học thanh niên với những nhóm cơ cấu xã hội khác, về mặt vai trò, phải khẳng định được chức năng và hiệu quả hoạt động, những đóng góp cụ thể trong hoạt động của nhóm thanh niên đối với sự vận hành và phát hiển của xã hội.

4. Vị thế của thanh niên trong cơ cấu xã hội

Nghiên cứu về dân số đã cho thấy, ở bất cứ xã hội nào, ngay cả xã hội bị xem là già hóa dân số thì thanh niên vẫn chiếm một tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu dân số. Ở Việt Nam cũng vậy, theo kết quả điều tra năm 2014 dân số thanh niên là 25,078,764 người, chiếm 27,7% dân số cả nước, trong đó nam thanh niên là 12,756,842 người và nữ thanh niên là 12,321,922 người, ước tính năm 2018 thanh niên là 23,3 triệu người, chiếm 24,6% dân số cả nước.

Việc chiếm tỷ trọng hơn 14tr dân số của cả nước cho thấy vị thế to lớn của nhóm thanh niên trong cơ cấu nhân khẩu học đây là một trong những điều kiện để phát ưiển kinh tế - xã hội - an ninh - quốc phòng của một đất nước.

Hiện nay, với vị thế quan trọng trong cơ cấu xã hội, thanh niên nước ta đã có mặt ở hầu hết các hoạt động chủ yếu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, ngày càng khẳng định được vai trò to lớn của mình. Vai trò đó thể hiện cụ thể ở những đóng góp của thanh niên trong các lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, ở tính tích cực chính trị, tinh thần xung kích, năng động, sáng tạo của họ trong các hoạt đọng xây dựng và phát triển đất nước.

5. Vai trò của thanh niên đối với sự vận động và phát triển xã hội

Xét về mặt lịch sử, thanh niên có vai trò hết sức quan trọng thể hiện ở chỗ mọi hoạt động của thanh niên đều trải rộng trên khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thanh niên là lực lượng chủ yếu trong hoạt động kinh tế, làm ra của cải vật chất chủ yếu cho xã hội, thanh niên cũng là lực lượng tiên phong trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội,... chính vì vai trò to lớn của thanh niên Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà” đây là sự khẳng định vững chắc nhất về quan điểm của Đảng ta đối với việc nâng cao vị thế và vai trò của thanh niên trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Theo kết quả điều tra lao động và việc làm toàn quốc của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, số lượng và tỷ lệ thanh niên tham gia hoạt động kinh tế tăng đều trong các năm. Năm 2008, số thanh niên hoạt động kinh tế của cả nước là hơn 16 triệu người, chiếm 67,2% tổng số thanh niên (38,7% lực lượng lao động xã hội); năm 2009, số thanh niên hoạt động kinh tế tăng thành gần 18 triệu người, chiếm 75,4% tổng số thanh niên (36,6% lực lượng lao động xã hội); năm 2010 con số đó là 17,1 triệu người, chiếm 75,9% tổng số thanh niên (33,7% lực lượng lao động xã hội).

Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị TW 7 (Khóa X) đã khẳng định “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích ương xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người”. Tại Đại hội Đảng lần thứ XII, Đảng ta khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc... ” Những định hướng của Đảng đối với công tác thanh niên và phong trào thanh niên đã không chỉ đánh giá cao vai trò của thanh niên trong đời sống xã hội mà còn tạo điều kiện về vật chất và tinh thần, xây dựng cơ sơ pháp lý để thế hệ trẻ tự giác phấn đấu, vươn lên xứng đáng với truyền thống của cha ông, của dân tộc, tiếp tục khẳng định vị thế của đất nước, của thế hệ trẻ Việt Nam.