- 1. Khái niệm về ưu tiên
- 2. Khái niệm về doanh nghiệp ưu tiên
- 3. Quan niệm về doanh nghiệp ưu tiên
- 4. Những ưu tiên đối với doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ưu tiên
- 4.1. Đối tượng và lĩnh vực liên quan đến chương trình ưu tiên
- 4.2. Những lợi ích của doanh nghiệp được ưu tiên theo khung tiêu chuẩn
- 5. Điều kiện và yêu cầu đối với Hải quan và doanh nghiệp ưu tiên trong khung tiêu chuẩn
- 5.1. Đảm bảo tuân thủ pháp luật hải quan
- 5.2. Điều kiện đối với việc quản lý báo cáo thương mại
- 5.3. Khả năng về tài chính
- 5.4. Công tác tư vấn, hợp tác và trao đổi thông tin
Căn cứ pháp lý:
- Luật doanh nghiệp 2020;
- Thông tư 63/2011/TT- BTC
1. Khái niệm về ưu tiên
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Theo Luật doanh nghiệp 2020, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, về cơ bản doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ưu tiên theo từ điển tiếng Việt được hiểu theo nghĩa là được coi trọng hơn, hoặc được hưởng một số quyền lợi trước, hay dành được sự quan tâm của mọi người. Đặc biệt được hiểu theo nghĩa là khác với bình thường về chức năng hoặc mức độ khả năng.
Ưu tiên đặc biệt là khái niệm ghép, nó phải được coi trọng trước tiên hoặc được hưởng mọi sự quan tâm trước tiên.
2. Khái niệm về doanh nghiệp ưu tiên
“Doanh nghiệp ưu tiên” được bắt nguồn từ khái niệm quốc tế bằng tiếng Anh là Authorized Economic Operator viết tắt là AEO có nghĩa là đối tác kinh tế được uỷ quyền. Bản Chỉ dẫn về AEO của EU đã đưa ra khái niệm về AEO: “Một Chứng nhận AEO – là việc đơn giản hoá Thủ tục Hải quan/An ninh và an toàn được cấp cho bất kỳ đối tác kinh tế nào được thiết lập trong Cộng đồng muốn hưởng các lợi ích mà chứng nhận AEO đem lại nếu đối tác kinh tế đó đáp ứng được các tiêu chí về tuân thủ pháp luật hải quan, chuẩn kế toán, thanh khoản và duy trì các chuẩn an ninh, an toàn phù hợp… Kèm theo đó, Hải quan chỉ có thể chấp nhận các đơn xin cấp chứng nhận AEO là “Đối tác kinh tế chỉ là một chủ thể trong quá trình kinh doanh tham gia vào các hoạt động được luật pháp hải quan điều chỉnh”.
Còn khung tiêu chuẩn an toàn SAFE Framework trong Bản tóm tắt chương trình AEO của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) định nghĩa một AEO là: “Một bên tham gia vào di chuyển hàng hóa quốc tế với bất cứ chức năng nào đã được cơ quan hải quan quốc gia phê duyệt hoặc thay mặt cho cơ quan hải quan quốc gia tuân thủ các tiêu chuẩn an ninh của WCO hoặc các tiêu chuẩn an ninh chuỗi cung ứng tương đương. AEO bao gồm trong đó các nhà sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, môi giới, vận chuyển, các nhà buôn, các hãng trung gian, bến cảng, sân bay, các đơn vị cảng vụ, đơn vị tích hợp, kho bãi, nhà phân phối…”.
Theo Thông tư 63/2011/TT- BTC ngày 13/5/2011, Doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan gọi tắt là doanh nghiệp ưu tiên được hưởng chế độ ưu tiên quy định tại thông tư này ở tất cả các đơn vị hải quan trong toàn quốc, cả trong giai đoạn làm thủ tục thông quan hàng hóa và giai đoạn kiểm tra sau thông quan. Doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên thì được hưởng chế độ ưu tiên mà các doanh nghiệp khác không được hưởng khi thực hiện xuất nhập khẩu hàng hoá của doanh nghiệp hoặc thực hiện dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu (trừ hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp được ưu tiên trong xuất khẩu hàng hóa là thủy sản, nông sản, dầu thô có xuất xứ thuần túy Việt Nam) hay mua bán ở nội địa.
3. Quan niệm về doanh nghiệp ưu tiên
Tại Việt Nam hiện nay, có thể hiểu “doanh nghiệp ưu tiên trong lĩnh vực hải quan là doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế được hưởng một số chế độ ưu tiên theo quy định của pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan và thực hiện kiểm tra sau thông quan”.
Như vậy, AEO hiểu theo nghĩa tiếng Anh của từ này và bản chất của Chương trình AEO rộng hơn cụm từ “Doanh nghiệp ưu tiên”. Thực chất AEO có thể hiểu là các đối tác kinh tế (Việt Nam hiện nay tạm hiểu là doanh nghiệp nhưng cần định nghĩa rộng hơn) có hệ thống tự đánh giá và kiểm soát độ tuân thủ pháp luật được phép hành động trong mức độ nhất định theo sự ủy quyền của cơ quan Hải quan. Các quy định về AEO của quốc tế và Doanh nghiệp ưu tiên của Việt Nam có nhiều điểm chưa thực sự đồng nhất dẫn tới những cách hiểu khác nhau, nhưng về cơ bản, các doanh nghiệp này được hưởng một số ưu tiên vượt trội trong hoạt động thương mại quốc tế. Tuy nhiên, để chương trình AEO muốn được thực hiện cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, phải được sự đồng thuận của Chính phủ và sự hỗ trợ của Lãnh đạo cấp cao nhất của Cơ quan quản lý hải quan.
Thứ hai, chương trình phải cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Việc này phải được chứng minh bằng các thủ tục đơn giản, giảm sự chậm trễ và quan hệ làm việc mới đã được tăng mức độ tuân thủ các yêu cầu của hải quan. Hơn hết, việc tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế là tiền đề cho quá trình hài hoà thủ tục hải quan do đặc thù tính quốc tế hoá của chuỗi cung ứng hàng hoá quốc tế .
Thứ ba, cơ quan Hải quan phải cam kết về tính chuyên nghiệp và thống nhất. Các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu không thể thành công như mong đợi nếu không có sự thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ trách nhiệm của đội ngũ công chức hải quan.
Thứ tư, Chính phủ quyết định hướng nhập khẩu, hướng xuất khẩu hay chính sách mặt hàng. Điều này phụ thuộc vào từng quốc gia. Chính phủ không chỉ cảnh giác với trước việc đảm bảo an ninh thông qua chuỗi cung ứng nhập khẩu mà còn đảm bảo tính cạnh tranh của mình trên thị trường quốc tế bằng cách bảo vệ thị trường xuất khẩu và thương hiệu hàng hóa.
Thứ năm, tăng cường mối quan hệ đối tác hải quan doanh nghiệp. Trong quản lý hải quan hiện đại, hệ thống kiểm soát truyền thống đã nhường chỗ cho các hệ thống chọn lọc dựa trên quản lý rủi ro. Các hệ thống này đã giúp cho các yêu cầu tuân thủ các yêu cầu hải quan dễ dàng hơn. Những doanh nghiệp không tuân thủ sẽ bị phạt nặng, những doanh nghiệp tuân thủ phải được thưởng bằng việc ưu tiên trong lĩnh vực hải quan. Thông qua cách tiếp cận kiểm soát ít có tính đối kháng, ngành hải quan có thể vừa đảm bảo an ninh cho chuỗi thương mại quốc tế vừa tạo thuận lợi cho dòng thương mại hợp pháp, tăng nguồn thu cho đất nước.
4. Những ưu tiên đối với doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ưu tiên
4.1. Đối tượng và lĩnh vực liên quan đến chương trình ưu tiên
Chuỗi cung ứng quốc tế là một quy trình kể từ giai đoạn sản xuất hàng hóa cho tới giai đoạn chuyển giao hàng hóa đó tới người sử dụng cuối cùng, bao gồm cả hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa. Như vậy, bản chất vận động của hàng hoá là do tác động của “con người”, hay rộng hơn là các chủ thể doanh nghiệp vận hành, kiểm soát tác động vào chuỗi cung ứng để đạt được các giá trị gia tăng hay lợi nhuận. Do đó, vai trò của doanh nghiệp là quyết định trong việc tạo ra các “rủi ro” dù là vô tình hay cố tình cho chuỗi cung ứng hàng hoá quốc tế. Chính vì vậy, để đảm bảo an ninh cho chuỗi cung ứng quốc tế này các cơ quan hải quan không nên chỉ tập trung vào các hàng hóa nhập khẩu và việc kiểm soát đối với các hàng hóa này mà còn cần phải đảm bảo an toàn cho cả chuỗi cung ứng quản lý cho được các chủ thể trong chuỗi.. Những nỗ lực trong việc đảm bảo an ninh cho chuỗi cung ứng quốc tế không chỉ nhằm mục đích bảo vệ mà còn góp phần làm cho các hoạt động luân chuyển hàng hoá trong chuỗi cung ứng diễn ra suôn sẻ hơn. Tham gia vào chuỗi cung ứng này gồm rất nhiều doanh nghiệp, từ sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, vận tải ….
Doanh nghiệp sản xuất có trách nhiệm đảm bảo một quy trình sản xuất an toàn và an ninh cho các sản phẩm của mình; đảm bảo cung cấp cho khách hàng các sản phẩm an toàn, an ninh với chất lượng tốt.
Doanh nghiệp xuất khẩu tuân thủ các thủ tục pháp lý liên quan tới việc xuất khẩu hàng hóa theo các quy định pháp luật về hải quan, bao gồm các chính sách thương mại và các loại thuế và phí xuất khẩu (nếu có) và đảm bảo cung cấp hàng hóa an toàn và an ninh.
Bên giao vận tuân thủ các thủ tục pháp lý trong vận chuyển hàng hoá theo các quy định về pháp luật hải quan; đảm bảo vận chuyển hàng hóa an toàn và an ninh, cụ thể là đảm bảo các phương tiện vận tải và hàng hóa đang được vận chuyển không bị tiếp cận và can thiệp trái phép.
Doanh nghiệp cho thuê kho bãi đảm bảo hàng hóa trong kho ngoại quan luôn được đặt dưới sự giám sát hải quan; tuân thủ các quy định bắt buộc đối với việc coi giữ hàng hóa theo thủ tục lưu kho hải quan; tuân thủ các điều kiện cụ thể được quy định theo thẩm quyền của hải quan; bảo vệ khu vực lưu giữ hàng hóa trước sự xâm phạm từ bên ngoài; và bảo vệ hàng hoá trước các hành vi tiếp cận, thay thế hoặc can thiệp trái phép.
Đại lý hải quan áp dụng những thủ tục pháp lý cần thiết theo các quy tắc hải quan, đảm bảo hàng hóa theo đúng các thủ tục hải quan.
Hãng vận tải đảm bảo vận chuyển hàng hóa an toàn và an ninh, cụ thể là đảm bảo các phương tiện vận tải và hàng hóa đang được vận chuyển không bị tiếp cận và can thiệp trái phép; Hãng có trách nhiệm cung cấp các tài liệu vận chuyển cần thiết; tuân thủ những thủ tục pháp lý cần thiết theo quy định của luật hải quan.
Các doanh nghiệp khác nhau trong chuỗi cung ứng đều dựa vào các quy trình an ninh của các đối tác kinh doanh nhằm đảm bảo an toàn cho các hàng hoá mà doanh nghiệp đang quản lý và nhằm duy trì “trạng thái an toàn”.
Có thể nói Dây chuyền cung ứng toàn cầu thuộc sở hữu của nhiều chủ thể, trong đó là những doanh nghiệp đang hoạt động trong dây chuyền cung ứng. Để cùng thực hiện được cả hai mục tiêu tạo thuận lợi và đảm bảo an ninh của Khung tiêu chuẩn về AEO, các cơ quan hải quan cần thông qua những quy định minh bạch và rõ ràng trong lĩnh vực hoạt động hải quan, khi mà những hoạt động này có thể tiếp tục được hiện đại hoá, điều chỉnh và tăng cường vì lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế. Hải quan cần xem xét một cách chủ động đối với những vấn đề có thể dựa trên nguồn lực hiện có nhằm hỗ trợ doanh nghiệp được hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả nhất. Cộng đồng thương mại và vận tải quốc tế có những kinh nghiệm và kiến thức để có thể hỗ trợ cơ quan hải quan trong việc thực hiện trách nhiệm đảm bảo an ninh và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Khu vực tư nhân cần tận dụng cơ hội này để thiết lập mối quan hệ đối tác với cơ quan hải quan và hỗ trợ hải quan thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến an ninh. Quan hệ giữa Hải quan – Doanh nghiệp là mối quan hệ hữu cơ phản ánh sự tương quan cân bằng giữa tạo thuận lợi và tuân thủ pháp luật luôn gắn kết và là nòng cốt của quan hệ giá trị này.
Như vậy, mối quan hệ đối tác Hải quan – Doanh nghiệp là một trong những nỗ lực nhằm thực hiện được cả hai mục tiêu an toàn, an ninh và tạo thuận lợi của dây chuyền cung ứng.
4.2. Những lợi ích của doanh nghiệp được ưu tiên theo khung tiêu chuẩn
Theo Khung tiêu chuẩn về an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu gồm có 4 thành phần, trong đó thành phần cuối cùng là những lợi ích mà Hải quan mang lại cho doanh nghiệp đáp ứng được những tiêu chuẩn và thông lệ tối thiểu về an ninh của dây chuyền cung ứng. Về cơ bản những lợi ích đối với các doanh nghiệp AEO, gồm:
Thứ nhất, các biện pháp thúc đẩy giải phóng hàng, giảm thời gian quá cảnh và chi phí lưu kho.
Để làm tốt điều này cơ quan hải quan của quốc gia cần xây dựng và thực tốt các vấn đề sau:
– Xây dựng bộ dữ liệu giải phóng hàng đã được thu gọn nhất có thể;
– Xúc tiến quá trình xử lý và giải phóng hàng nhanh, gọn, chính xác;
– Việc kiểm tra an ninh hàng hóa phải thực hiện ở mức tối thiểu;
– Ưu tiên sử dụng các kỹ thuật trong kiểm tra, kiểm soát hải quan, đảm bảo thực hiện kiểm tra không phá mẫu khi cần thiết phải kiểm tra hàng hóa;
– Giảm một số phí và lệ phí cho các doanh nghiệp được ưu tiên;
– Đảm bảo hoạt động liên tục của cơ quan hải quan có yêu cầu rõ ràng của doanh nghiệp.
Thứ hai, cho phép doanh nghiệp ưu tiên truy cập vào thông tin có giá trị
Các doanh nghiệp được ưu tiên được phép truy cập các thông tin liên quan đến các lĩnh vực:
– Tên và các thông tin liên lạc của các doanh nghiệp ưu tiên khác khi có sự đồng ý của những doanh nghiệp ưu tiên này;
– Danh sách tất cả các nước đã thông qua Khung tiêu chuẩn của WCO;
– Danh mục các tiêu chuẩn và thông lệ về an ninh đã được công nhận.
Thứ ba, các biện pháp cụ thể liên quan đến các giai đoạn khó khăn của doanh nghiệp hoặc khi mức độ rủi ro gia tăng
Cơ quan hải quan nghiêm chỉnh thực hiện các quy định đối với các doanh nghiệp được ưu tiên nhưng đang gặp rủi ro trong các trường hợp:
– Doanh nghiệp gặp các điều kiện nguy hiểm;
– Sau khi xảy ra sự cố về việc đóng cửa hoặc tái mở cửa các cảng biển/ cửa khẩu biên giới;
– Xuẩt khẩu hàng hóa sang các nước gặp thảm họa hoặc sự cố
Thứ tư, xem xét việc tham gia vào bất cứ chương trình mới nào về xử lý hàng hóa, gồm:
– Đơn giản hóa các chương trình kiểm tra sau thông quan;
– Hợp lý hóa các chương trình tự kiểm tra của doanh nghiệp hoặc giảm bớt các cuộc kiểm tra doanh nghiệp;
– Đẩy nhanh việc xử lý các yêu cầu liên quan đến kiểm tra sau thông quan;
– Giảm bớt thiệt hại và việc xử phạt hành chính ngoại trừ những trường hợp gian lận mà Hải quan có cơ sở xác định;
– Tăng cường việc xử lý phi giấy tờ hàng hóa xuất nhập khẩu thương mại;
– Ưu tiên đáp ứng các yêu cầu liên quan đến các quyết định của cơ quan Hải quan quốc gia.
– Được thực hiện , hợp lý hóa các thủ tục thông quan từ xa
– Có khả năng đưa ra các hành động khắc phục sự cố hoặc cung cấp thông tin trước khi thực hiện quy trình xử phạt hành chính của Hải quan ngoại trừ các trường hợp gian lận.
– Được ưu tiên không bị phạt đối với những trường hợp chậm nộp thuế mà chỉ tính tiền lãi cho khoản thuế nộp chậm.
5. Điều kiện và yêu cầu đối với Hải quan và doanh nghiệp ưu tiên trong khung tiêu chuẩn
Theo Khung tiêu chuẩn của Tổ chức hải quan thế giới cho phép đưa ra các kế hoạch an ninh linh hoạt dựa trên mô hình AEO. Các cơ quan hải quan không nên gây cản trở cho cộng đồng thương mại quốc tế bằng việc đặt ra các yêu cầu khác nhau để đảm bảo an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế. Do vậy, cần có duy nhất một bộ các chuẩn mực hải quan quốc tế do WCO xây dựng và không trùng lắp hoặc trái ngược với các yêu cầu an ninh liên chính phủ đã được công nhận. Để được hưởng ưu tiên, doanh nghiệp cũng như Hải quan phải đáp ứng những nhu cầu nhất định dưới đây.
5.1. Đảm bảo tuân thủ pháp luật hải quan
Khung tiêu chuẩn của Tổ chức Hải quan thế giới quy định doanh nghiệp muốn được hưởng ưu tiên phải một thời gian nhất định không vi phạm các quy định trong luật pháp quốc gia về hải quan và các quy định khác của pháp luật gây ảnh hưởng đến việc được cấp chế độ ưu tiên. Về cơ bản phải đáp ứng các yêu cầu sau:
(i) Doanh nghiệp có quá trình tuân thủ pháp luật là doanh nghiệp chưa bị cơ quan hải quan và các cơ quan quản lý nhà nước khác xử lý vi phạm pháp luật; hoặc, trong thời hạn nhất định (có thể là 36 tháng), không quá 03 (ba) lần bị mỗi cơ quan quản lý xử lý vi phạm hành chính (không bao gồm việc phạt chậm nộp tiền thuế) bằng hình thức phạt tiền với mức phạt mỗi lần lớn hơn mức nhất định (tùy theo quy định quốc gia), không kèm theo các hình thức phạt bổ sung (như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; buộc tiêu hủy, buộc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ quốc gia; buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật vi phạm); doanh nghiệp hợp tác tốt với cơ quan hải quan.
(ii) Thời gian đánh giá quá trình tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp thường là 36 (ba mươi sáu) tháng trở về trước, kể từ ngày Cơ quan hải quan nhận được văn bản của doanh nghiệp đề nghị được công nhận là doanh nghiệp ưu tiên. Quy định này được nhiều nước áp dụng, tuy nhiên theo thông lệ quốc tế, một số nước (Mỹ, Nhật) tiến hành kiểm toán hệ thống kinh doanh của các đối tác muốn gia nhập Chương trình AEO trước, trong và sau khi gia nhập. Và trong 3 năm đầu AEO phải chấp nhận kiểm toán chặt chẽ và được hỗ trợ để điều chỉnh, hoàn thiện theo tiêu chuẩn.
Đối với doanh nghiệp có thời gian hoạt động dưới 36 tháng nhưng tối thiểu đã hoạt động 12 tháng được ưu tiên trong xuất khẩu, nhập khẩu tất cả các mặt hàng, loại hình xuất khẩu, nhập khẩu nếu đáp ứng được các quy định về điều kiện doanh nghiệp ưu tiên cũng có thể thuộc các doanh nghiệp được xem xét công nhận là doanh nghiệp ưu tiên.
(iii) Thẩm quyền xác nhận việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp là thủ trưởng các cơ quan quản lý liên quan đến quản lý hải quan, quản lý thuế và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, cụ thể là:
– Thứ nhất, Cơ quan hải quan xác nhận việc tuân thủ pháp luật hải quan (bao gồm cả việc chấp hành pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu).
– Thứ hai, các cơ quan có thẩm quyền khác xác nhận việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp theo đề nghị của Cơ quan hải quan, gồm:
+ Cơ quan thuế nơi doanh nghiệp đăng ký, thực hiện nghĩa vụ nộp các khoản thuế nội địa xác nhận việc tuân thủ pháp luật về thuế nội địa và hiệu quả kinh doanh.
+ Cơ quan quản lý kế hoạch và đầu tư (Ở Việt Nam là Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố), hoặc Cơ quan quản lý khu công nghiệp, Cơ quan quản lý khu kinh tế nơi doanh nghiệp có trụ sở chính hoặc có cơ sở sản xuất xác nhận việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.
+ Cơ quản lý thị trường tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp có trụ sở và có cơ sở sản xuất kinh doanh xác nhận việc tuân thủ pháp luật thương mại. Trường hợp doanh nghiệp có trụ sở, cơ sở sản xuất kinh doanh ở nhiều tỉnh, thành phố thì phải có xác nhận của Cơ quan quản lý thị trường tại tất cả các tỉnh, thành phố đó.
5.2. Điều kiện đối với việc quản lý báo cáo thương mại
Để được công nhận là AEO, doanh nghiệp phải đảm bảo đúng hạn, chính xác và hoàn thành các báo cáo liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Doanh nghiệp phải lưu các chứng từ thương mại, các chứng từ này có thể được xác nhận là một thành phần cần thiết trong vấn đề an ninh của dây chuyền cung ứng. Cụ thể, doanh nghiệp phải thực hiện tốt các công việc:
Duy trì hệ thống báo cáo cho phép cơ quan hải quan tiến hành bất kỳ hoạt động kiểm toán nào đối với sự di chuyển của hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu;
Chuẩn bị và cho phép cơ quan hải quan được xem xét các báo cáo cần thiết theo quy định của luật pháp quốc gia;
Doanh nghiệp phải cho hải quan được phép và luôn sẵn sàng hỗ trợ việc truy cập vào các báo cáo nội bộ và hệ thống quản lý đáp ứng yêu cầu của cơ quan hải quan cấp phép.
Doanh nghiệp có trách nhiệm lưu trữ và cung cấp cho cơ quan Hải quan bất kỳ chứng nhận cấp phép hoặc giấy phép liên quan đến việc nhập khẩu và xuất khẩu hàng hoá. Trong giới hạn được quy định tại pháp luật quốc gia, lưu trữ các báo cáo thích hợp để cung cấp cho cơ quan hải quan sau đó.
Đồng thời doanh nghiệp áp dụng các biện pháp an ninh công nghệ thông tin phù hợp để bảo vệ chống lại việc truy cập của các cá nhân không có thẩm quyền.
5.3. Khả năng về tài chính
Khả năng tài chính tốt là yếu tố quan trọng về tiềm lực duy trì và phát triển dựa trên các biện pháp đảm bảo an ninh đối với dây chuyền cung ứng. Đồng thời nó đảm bảo việc đáp ứng các cam kết đối với các loại hình kinh doanh của doanh nghiệp. Hải quan xem xét quá trình hoạt động của doanh nghiệp xin tham gia chương trình AEO trong đó việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và doanh nghiệp phải chứng minh được doanh nghiệp có khả năng đáp ứng bất kỳ tiêu chuẩn bổ sung nào về khả năng thanh toán tài chính hay các vấn đề liên quan khác. Vì vậy, tùy thuộc vào loại hình kinh doanh mà doanh nghiệp phải đảm bảo mức độ kim ngạch tối thiểu mới được tham gia vào chương trình này.
5.4. Công tác tư vấn, hợp tác và trao đổi thông tin
Để đảm bảo có sự hợp tác cùng phát triển, cơ quan hải quan, các cơ quan chức năng khác và doanh nghiệp AEO cần thường xuyên tham vấn vì lợi ích của cả đôi bên bao gồm những vấn đề như: an ninh dây chuyền cung ứng; các biện pháp tạo thuận lợi thương mại tuân thủ các quy định về hoạt động kiểm soát. Kết quả của công tác tham vấn này góp phần vào sự phát triển và duy trì hoạt động quản lý rủi ro của hải quan.
Vấn đề này yêu cầu các doanh nghiệp AEO thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
(i) Cung cấp các đầu mối liên lạc rõ ràng, thường trực tại trụ sở doanh nghiệp hoặc đầu mối phối hợp có thể cho phép liên lạc lập tức tới đầu mối tại trụ sở doanh nghiệp đối với các vấn đề thuộc phạm vi tuân thủ và thực thi của cơ quan hải quan (đăng ký hàng, vận chuyển, thông tin về nhân viên…);
(ii) Bản thân doanh nghiệp AEO hoặc thông qua hiệp hội ngành nghề, phải tham gia vào việc trao đổi thông tin lẫn nhau với cơ quan hải quan trừ những thông tin không thể cung cấp do quy định của pháp luật, các văn bản pháp lý hoặc những tiền lệ khác.
(iii) Thông qua các cơ chế được quy định tại chương trình AEO quốc gia, thông báo tới cán bộ hải quan thích hợp đối với những hồ sơ không phù hợp, có nghi vấn hoặc những yêu cầu bất thường đối với thông tin về chuyến hàng.
(iv) Thông qua các cơ chế được quy định tại chương trình AEO quốc gia, cung cấp thông tin kịp thời cho cơ quan hải quan và các cơ quan có thẩm quyền khác khi nhân viên phát hiện ra những hàng hoá phạm pháp, có nghi ngờ hoặc không chứng minh được.
Đối với cơ quan hải quan
Cơ quan hải quan có trách nhiệm giúp đỡ, phối hợp trong việc:
(i) Tham vấn với doanh nghiệp AEO hoặc đại lý của doanh nghiệp, thiết lập các thủ tục cần tuân thủ trong trường hợp có yêu cầu hoặc nghi ngờ có vi phạm hải quan.
(ii) Trong trường cần thiết và theo yêu cầu của thực tế, tham gia vào các phiên tham vấn thường xuyên ở cấp quốc gia và cấp địa phương với tất cả các bên tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu để thảo luận những vấn đề mà các bên cùng quan tâm bao gồm các quy định về hải quan, thủ tục và các yêu cầu đối với nhà xưởng và an ninh hàng hoá.
(iii) Theo yêu cầu của AEO, cung cấp các thông tin phản hồi cụ thể về việc kinh doanh của AEO nhằm nhấn mạnh các vấn đề về an ninh liên quan đến dây chuyền cung ứng quốc tế.
(iv) Cung cấp cho doanh nghiệp AEO hoặc các đại lý của doanh nghiệp các số điện thoại, địa chỉ của các cán bộ có thể liên lạc.