1. Kháng cáo được hiểu là như thế nào?
Kháng cáo, là một quyền được pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam thừa nhận và đảm bảo thực hiện, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án hình sự. Tuy nhiên, quyền kháng cáo không chỉ đơn thuần là một phần của quá trình phúc thẩm, mà còn là quyền tố tụng quan trọng, cho phép các chủ thể có liên quan thể hiện sự không đồng tình đối với phán quyết của Tòa án tại giai đoạn sơ thẩm khi bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
Hiện nay, khái niệm về kháng cáo chưa được định nghĩa cụ thể và vẫn còn những diễn giải khác nhau. Trong quá trình thiết lập và hiểu rõ khái niệm này, việc làm rõ nghĩa vụ và quyền hạn của các chủ thể trong quá trình kháng cáo là tối kỵ. Mặc dù đã tồn tại từ thời kỳ phong kiến dưới cái tên "kêu oan," nhưng đến thời hiện đại, quyền kháng cáo đã trở nên phức tạp và đa dạng hơn.
Góc độ ngôn ngữ cũng đã cố gắng định nghĩa kháng cáo. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, kháng cáo được hiểu là "Chống án, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử." Mặc dù khái niệm này đã thể hiện bản chất của kháng cáo là việc phản đối và yêu cầu xét xử lại, nhưng vẫn còn thiếu sự cụ thể về các khía cạnh kháng cáo như đối tượng, chủ thể của quyền này.
Trong thực tế, khái niệm kháng cáo có thể được hiểu là "quyền của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật." Điều này nhấn mạnh rằng kháng cáo là quyền của những chủ thể tham gia tố tụng và chỉ Tòa án cấp trên có thẩm quyền xét xử lại bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, các quan điểm về khái niệm kháng cáo, mặc dù có khác biệt trong việc tiếp cận, vẫn thể hiện tính thống nhất về quyền kháng cáo như một cơ chế quan trọng trong hệ thống tố tụng hình sự. Điều quan trọng là làm rõ các yếu tố cơ bản để đảm bảo việc thực hiện quyền kháng cáo được minh bạch, công bằng và hợp lý.
Tuy nhiên, để làm rõ một cách hợp lý và khoa học về khái niệm kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, cần xuất phát từ những cơ sở lý luận sau đây:
Thứ nhất, kháng cáo nói chung và kháng cáo trong tố tụng hình sự nói riêng là một trong những quyền cơ bản của con người, không chỉ được ghi nhận trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam mà còn được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế. Khoản 5 Điều 14 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: “Bất kỳ người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu tòa án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật”. Trong pháp luật Việt Nam, quyền kháng cáo là quyền của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật thể hiện sự bất đồng của mình thông qua việc yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm. Như vậy, có thể hiểu kháng cáo là “quyền mà pháp luật dành cho những người tham gia tố tụng được đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đang còn trong thời hạn kháng cáo”.
Thứ hai, kháng cáo là quyền luật định cho những người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử nhưng không phải người tham gia tố tụng nào cũng có quyền kháng cáo. Chủ thể của quyền kháng cáo là những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích bị ảnh hưởng bởi phán quyết của Tòa án, thực hiện quyền kháng cáo để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đối với phán quyết của Tòa án mà theo họ là không hợp lý, thiếu căn cứ và không hợp pháp. Nói cách khác, chỉ những chủ thể là người tham gia tố tụng được pháp luật quy định thì mới có quyền kháng cáo.
Thứ ba, cũng như việc thực hiện những hoạt động tố tụng khác, kháng cáo phải được thực hiện một cách hợp pháp theo đúng quy định về thủ tục, thời hạn, giới hạn cũng như các quy định khác của pháp luật. Kháng cáo là cơ sở, là nội dung của xét xử phúc thẩm. Theo đó, kháng cáo là căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Đúng như Điều 345 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định: “Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo,...”. Như vậy, trường hợp kháng cáo của người tham gia tố tụng đúng theo trình tự, thủ tục luật định thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét lại những nội dung bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Kháng cáo không được coi là hợp pháp nếu nó không biểu hiện bằng những cách thức cụ thể trong một khoảng thời gian mà pháp luật quy định. Chỉ khi đảm bảo các yêu cầu về tính hợp pháp thì kháng cáo mới được xem là cơ sở để phát sinh thủ tục phúc thẩm.
Thứ tư, đối tượng của kháng cáo là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, pháp luật sẽ quy định một khoảng thời gian để một số người tham gia tố tụng xem xét việc kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm trước khi bản án, quyết định sơ thẩm đó có hiệu lực pháp luật. Khi có kháng cáo, Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm sẽ xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm.
Thứ năm, kháng cáo có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị hại và đương sự. Thông qua việc kháng cáo, Tòa án cấp trên trực tiếp có cơ sở để xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Từ đó, Tòa án có khả năng kiểm tra tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm đó và khắc phục kịp thời các thiếu sót, sai lầm trong việc xét xử của Tòa án cấp dưới.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự là quyền của bị cáo, bị hại, đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Điều này đòi hỏi tuân theo thủ tục luật định, trong đó yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật.
2. Kháng cáo có bị tăng án không?
Tại Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về việc sửa bản án sơ thẩm như sau:
- Khi có căn cứ xác định rằng bản án sơ thẩm đã không đúng với tính chất, mức độ, hoặc hậu quả của hành vi phạm tội, hoặc có thông tin mới về nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm được quyền sửa đổi bản án sơ thẩm theo các cách sau:
+ Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;
+ Áp dụng các điều, khoản của Bộ luật hình sự liên quan đến tội nhẹ hơn;
+ Giảm mức hình phạt cho bị cáo;
+ Giảm mức bồi thường thiệt hại và điều chỉnh quyết định xử lý vật chứng;
+ Chuyển đổi sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn;
+ Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho phép án treo.
- Trong trường hợp Viện kiểm sát hoặc bị hại kháng nghị và yêu cầu điều chỉnh, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể:
+ Tăng mức hình phạt, áp dụng các điều, khoản của Bộ luật hình sự liên quan đến tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp;
+ Tăng mức bồi thường thiệt hại;
+ Chuyển đổi sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn;
+ Không cho bị cáo hưởng án treo.
Nếu có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn có quyền giảm mức hình phạt, áp dụng các điều, khoản của Bộ luật hình sự liên quan đến tội nhẹ hơn, chuyển đổi sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho phép án treo, cũng như giảm mức bồi thường thiệt hại.
- Trong trường hợp có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa đổi bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 của Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đối với những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo đó kháng cáo vẫn có thể bị tăng án phạt nếu bị hại kháng cao ( nếu có căn cứ ) theo quy định tại Khoản 2 của Điều 375 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015, nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo thì Tòa án phúc thẩm không thể tuyên một hình phạt nặng hơn hình phạt mà Tòa án sơ thẩm đã tuyên.
3. Thủ tục kháng cáo năm 2023 như thế nào?
Bước 1: Gửi đơn kháng cáo hoặc kháng cáo trực tiếp:
Người kháng cáo thực hiện việc gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã thụ lý xét xử sơ thẩm vụ án hoặc Tòa án cấp phúc thẩm.
Nếu bị cáo đang bị tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ hoặc Giám thị Trại tạm giam có nhiệm vụ tiếp nhận và chuyển đơn kháng cáo cho Tòa án sơ thẩm đã ra bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
Trường hợp người kháng cáo không thể viết đơn kháng cáo hoặc không có khả năng gửi đơn, người đó có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã thụ lý xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo của mình.
Trong quá trình nộp đơn kháng cáo, người kháng cáo có thể kèm theo các bằng chứng, tài liệu liên quan để minh chứng cho căn cứ của việc kháng cáo và cung cấp cơ sở cho cơ quan có thẩm quyền xem xét.
Bước 2: Tiếp nhận và xử lý đơn:
+ Tòa án cấp sơ thẩm sau khi nhận đơn kháng cáo hoặc biên bản ghi về việc kháng cáo phải thực hiện ghi nhận trong sổ tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo:
Nếu người gửi đơn không có quyền kháng cáo, Tòa án cần xem xét và trả lại đơn trong vòng ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn. Đồng thời, Tòa án thông báo bằng văn bản cho người gửi đơn, Viện kiểm sát nhân dân hoặc cơ quan quân sự tương ứng, nêu rõ lý do trả lại đơn.
Nếu có khiếu nại về việc trả lại đơn, người gửi đơn có quyền khiếu nại trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được thông báo, và cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện tiến trình xem xét khiếu nại.
Bước 3: Thụ lý và tiến hành xét xử theo thủ tục phúc thẩm:
Tòa án ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tiến hành chuẩn bị các bước để xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Xem thêm bài viết: Cách tính án phí dân sự, hình sự, hành chính, lao động mới 2023. Khi có thắc mắc về quy định pháp luật, hãy liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư yêu cầu tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn