Trả lời:
Thời hiệu khởi kiện được quy định lần đầu tiên tại Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, tuy nhiên đến Bộ luật dân sự năm 1995 mới có quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện. Điều 171 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định:
“1. Thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại trong trường hợp:
a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
b) Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
c) Các bên đã tự hòa giải với nhau.
2. Thời hiệu khởi kiện bắt đâu lại, kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này”.
Nội dung quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện như Điều 171 nêu trên được giữ nguyên tại Điều 162 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điểu 157 Bộ luật dân sự năm 2015.
Tranh chấp thừa kế cũng là một loại tranh chấp có áp dụng thời hiệu khởi kiện nên quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện cũng phải được áp dụng đối với tranh chấp thừa kế. Thời điểm bắt đầu của thời hiệu khởi kiện về thừa kế được quy định chung là thời điểm mở thừa kế (thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì tính từ ngày 10/9/1990). Khi có một trong các sự kiện nêu tại khoản 1 Điểu 171 Bộ luật dân sự năm 1995 thì thời hiệu sẽ tính lại kể từ ngày tiếp theo sự kiện ấy.
Bên có nghĩa vụ là bên đã được xác định trong khởi kiện của nguyên đơn. Việc “thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ” có thể được thể hiện trong văn bản trình bày hay lời khai của bên có nghĩa vụ. Việc thừa nhận này không có quy định bắt buộc về hình thức nên có thể chỉ cần có chứng cứ chứng minh là đã thừa nhận. Ví dụ: Tại một buổi làm việc của chính quyền địa phương, người quản lý tài sản tranh chấp đã khai đây là di sản thừa kế nên họ sẽ phải chia cho những người thừa kế khác.
Quy định “Các bên đã tự hòa giải với nhau” mà không có quy định khác thì cẩn phải hiểu là việc hòa giải có thể có hoặc không có sự tham gia của các tổ chức hòa giải nhưng phải là sự thỏa thuận thống nhất của tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chứ không thể chỉ là một nhóm người.
Pháp luật không quy định về thời điểm phát sinh sự kiện bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện. Như vậy, sự kiện ấy có thể phát sinh ở thời điểm còn trong thời hiệu khởi kiện và cũng có thể phát sinh ở thời điểm đã hết thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, trong thời kỳ thi hành Bộ luật dân sự năm 2015 thì còn phải lưu ý đến quy định: “hết thời hạn... thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản ỉý dỉ sản”. Đây là một quy định xác định di sản được đương nhiên trở thành tài sản của người quản lý sau thời điểm hết thời hiệu khởi kiện. Do vậy, sau thời điểm này thi việc bắt đầu lại thời hiệu không còn ý nghĩa nữa; việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện về thừa kế chỉ có ý nghĩa khi thời hiệu khởi kiện chưa hết.
Ví dụ: Thừa kế mở ngày 10/01/2001. Di sản là động sản nên thời hiệu khởi kiện là 10 năm kể từ ngày 10/01/2001, thời hiệu khởi kiện chia thừa kế động sản này sẽ hết vào ngày 10/01/2011. Ngày 15/9/2009, bên quản lý di sản có bản cam kết sẽ chia di sản cho những người thừa kế. Thời hiệu khởi kiện chia di sản sẽ được bắt đầu lại từ ngày 16/9/2009. Như vậy, thời hiệu khởi kiện phải đến ngày 16/9/2019 mới hết. Trước ngày 16/9/2019, di sản vẫn tồn tại, không trở thành tài sản của người đang quản lý. Những người thừa kế khác khởi kiện trước ngày 16/9/2019 là vẫn trong thời hiệu khởi kiện.
Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện cũng là một quy định về thời hiệu. Do vậy, Tòa án cũng chỉ áp dụng quy định này khi có yêu cầu và trong thời hạn được quy định tại khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự năm 2015.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến việc chia tài sản thừa kế, vui lòng liên hệ trực tiếp: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162
Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)