1. Phạm vi xét xử phúc thẩm và thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm

rong quá trình phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Cụ thể, các phần được coi là có liên quan đến việc xem xét kháng cáo, kháng nghị là những trường hợp mà việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với phần này của bản án, quyết định sơ thẩm yêu cầu phải được xem xét, giải quyết đồng thời với phần khác có liên quan của bản án, quyết định sơ thẩm, ngay cả khi phần này không bị kháng cáo, kháng nghị.

Về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rõ ràng. Theo đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa bản án sơ thẩm, hoặc hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Ngoài ra, Hội đồng cũng có thể đình chỉ xét xử phúc thẩm trong một số trường hợp nhất định.

Đối với trường hợp sửa bản án sơ thẩm hoặc hủy bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ căn cứ vào Điều 309 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 309, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định không đúng theo quy định pháp luật. Đối với trường hợp này, việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ và đúng quy định hoặc đã được bổ sung đầy đủ tại phiên tòa phúc thẩm.

Trong khi đó, theo Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm trong trường hợp việc thu thập chứng cứ và chứng minh không đúng theo quy định hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được, hoặc nếu thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định hoặc có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Tóm lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thẩm quyền sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm trong các trường hợp được quy định cụ thể tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình phúc thẩm tại tòa án.

Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là khi Tòa án không tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, dẫn đến việc đương sự không thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong vụ án đó. Có nhiều loại vi phạm với mức độ nghiêm trọng khác nhau, như vi phạm trong việc tống đạt văn bản tố tụng hoặc bỏ lỡ tư cách đương sự, giải quyết không đầy đủ yêu cầu của đương sự. Mức độ ảnh hưởng của vi phạm phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, việc Tòa án cấp sơ thẩm chậm tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử có thể không được coi là vi phạm nghiêm trọng nếu vẫn đảm bảo quyền của đương sự tham gia phiên tòa và vụ án vẫn được xét xử đúng thời hạn.

Tuy nhiên, nếu Tòa án vi phạm không giải quyết hết các yêu cầu của đương sự hoặc không xác định đúng tư cách đương sự, việc này được coi là vi phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ phải hủy án sơ thẩm theo quy định tại Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với các vi phạm về nội dung, nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ sửa bản án sơ thẩm để khắc phục sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, đối với các vi phạm về tố tụng, thường phải hủy án sơ thẩm vì vi phạm này ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định trình tự và thủ tục để đảm bảo quyền của đương sự, và vi phạm tố tụng có thể ảnh hưởng đến kết quả của vụ án. Điều này đặt ra nhu cầu cần phải giải quyết đúng đắn và toàn diện các vụ án để đảm bảo công bằng và tính minh bạch trong hệ thống pháp luật.

2. Người kháng cáo rút kháng cáo thì việc xét xử phúc thẩm có bị đình chỉ không?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quy định về việc đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án như sau:

- Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hoặc một phần vụ án trong các trường hợp sau đây:

+ Các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này;

+ Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;

+ Người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị;

+ Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Trong các trường hợp này, bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

- Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm.

Như vậy, theo quy định nêu trên, khi người kháng cáo rút kháng cáo thì tùy từng trường hợp nhất định việc xét xử phúc thẩm mới bị đình chỉ, cụ thể:

- Nếu người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo thì việc xét xử phúc thẩm sẽ bị đình chỉ.

- Nếu người kháng cáo chỉ rút một phần kháng cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc người kháng cáo rút một phần kháng cáo và ra quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm.

3. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của pháp luật

- Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:

+ Không có quyền khởi kiện lại: Đương sự không được phép khởi kiện lại vụ án đã bị đình chỉ với cùng yêu cầu như lần khởi kiện đã bị đình chỉ trước đó, trừ các trường hợp được quy định cụ thể.

+ Trả lại tiền tạm ứng án phí: Tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp sẽ được trả lại cho họ, trừ các trường hợp đặc biệt được quy định.

- Hậu quả của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm:

Bản án sơ thẩm giữ nguyên và phát sinh hiệu lực: Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm dẫn đến việc bản án sơ thẩm trước đó sẽ được giữ nguyên và phát sinh hiệu lực theo quy định của pháp luật, không có sự thay đổi hay can thiệp từ phía Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Xem thêm: Không đồng ý với bản án phúc thẩm thì phải làm thế nào?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Khi rút kháng cáo việc xét xử phúc thẩm có bị đình chỉ hay không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!