1. Luật sư là ai ?
Luật sư là người được cấp phép hành nghề luật và có nghĩa vụ áp dụng pháp luật vào việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng. Luật sư thường có các nghĩa vụ gắn liền với lĩnh vực hoạt động của họ như: tư vấn và đưa ra lời khuyên pháp luật; nghiên cứu và thu thập bằng chứng, chứng cứ để soạn thảo tài liệu phục vụ cho vụ việc, tranh chấp; tư vấn soạn thảo hợp đồng; tư vấn trong các giao dịch mua bán; thực hiện bào chữa và và đại diện tham gia tranh tụng trước tòa cho khách hàng. Theo đặc thù công việc, luật sư được phân ra thành luật sư tư vấn và luật sư tranh tụng. Khi là luật sư tư vấn, thường luật sư sẽ thực hiện tư vấn các vấn đề pháp lý cho khách hàng. Khi là luật sư tranh tụng, luật sư sẽ là người đại diện cho khách hàng, tham gia vào phiên tòa để bào chữa, tranh luận, bảo vệ quyền và lợi ích cho thân chủ.
2. Luật sư làm những công việc gì ?
Tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động mà luật sư có những nhiệm vụ và công việc thực hiện khác nhau. Nhìn chung, luật sư khi hành nghề sẽ thực hiện những công việc sau:
Tư vấn và đại diện về luật pháp cho khách hàng, trước các cơ quan chính phủ, và các vấn đề cá nhân
Giao tiếp với khách hàng và những người khác
Nghiên cứu cách cư xử và phân tích các vấn đề về luật pháp
Làm sáng tỏ luật, chỉ đạo và điều chỉnh cho cá nhân cũng như doanh nghiệp hành xử cho đúng luật
Đưa ra sự thật bằng cách viết hoặc thuyết minh với khách hàng hay những đơn vị được đại diện
3. Khi tham gia tô tụng, Luật sư có những quyền và nghĩa vụ của họ được pháp luật quy định thế nào?
3.1 Quyền của Luật sư khi tham gia tố tụng
Khi tham gia tố tụng, Luật sư có các quyền sau đây:
- Gặp, hỏi người bị buộc tội: Luật sư có quyền chủ động tiến hành gặp, hỏi người bị buộc tội trong bất cứ giai đoạn tô' tụng nào và không hạn chê' sô' lần, thòi gian gặp. Luật sư được hỏi, trao đổi hoàn toàn riêng tư với người bị buộc tội trong điều kiện giám sát của cơ sỏ giam giữ mà không bắt buộc phải có mặt người tiến hành tô' tụng.
- Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của ngưòi có thẩm quyền kết thúc thì Luật sư có thể hỏi ngưòi bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Đây là quyền tham gia của Luật sư vào quá trình lấy lời
khai của người bị bắt, bị tạm giữ và hỏi cung bị can. Như vậy việc hỏi người bị buộc tội trong trường hợp này phải tuân thủ sự điều hành của điều tra viên hoặc kiểm soát viên. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015 thì quyền hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can trong quy định này sẽ bao gồm 2 trường hợp:
- Nếu hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can trong khi ngưòi có thẩm quyền đang lấy lời khai, hỏi cung thì phải có sự đồng ý của người hỏi cung và
- Nêu hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can sau khi người có thẩm quyền đã lấy lời khai, hỏi cung xong thì không cẩn phải có sự đồng ý của ngưòi hỏi cung.
- Có mặt trong hoạt động đốì chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác: Ngoài hoạt động lấy lời khai, hỏi cung, Luật sư được quyền có mặt trong các hoạt động tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng như đôì chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói,... nhằm bảo đảm tính khách quan trong hoạt động tố tụng.
- Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trưóc về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác: Luật sư có quyền được thông báo trước về thời gian, địa điểm diễn ra các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Việc thông báo phải được thực hiện trước một khoảng thời gian hợp lý nhằm bảo đảm cho Luật sư có thời gian thu xếp công việc để tham gia hoạt động lời khai, hỏi cung và các hoạt động điều tra khác.
- Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến ngưòi mà mình bào chữa.
- Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
- Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
- Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu.
- Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiên về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá.
- Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản. Trong thực tế có nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng bỏ sót các chứng cứ có lợi cho người bị buộc tội, việc giám định, định giá tài sản không chính xác hoặc chưa đầy đủ nên việc Luật sư - bằng sự hiểu biết và kinh nghiêm của mình về pháp luật - có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản. Đây là những quyền hết sức cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện. Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần phát huy khả năng trong việc thu thập chứng cứ hoặc đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám đỉnh lại, định giá lại tài sản.
- Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra. Quyền này giúp Luật sư nắm vững và hiểu toàn diện về nội dung vụ án, tránh các thông tin một chiều do người bị buộc tội cung cấp hoặc do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập nhằm bảo đảm việc bào chữa có hiệu quả và tuân thủ quy định của pháp luật.
- Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa phải tuân thủ theo sự điều hành phiên tòa của Chủ tọa phiên tòa. Mục đích của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa nhằm làm sáng rõ các tình tiết, nội dung của vụ án, bảo đảm cho luận cứ bào chữa được toàn diện, chính xác, khách quan và đầy đủ hơn.
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Quy định này không những bảo đảm cơ chế giám sát sự tuân thủ pháp luật trong quá trình hoạt động tô' tụng của cơ quan tiến hành tố tụng mà còn bảo đảm quyền lợi hợp pháp của Luật sư.
- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Nếu bị cáo là người đã thành niên, không có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì bị cáo phải tự thực hiện quyền kháng cáo, Luật sư không có quyền kháng cáo thay họ.
3.2 Nghĩa vụ của Luật sư khi tham gia tố tụng
Bên cạnh các quyền thì Luật sư cũng có những nghĩa vụ sau đây:
- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội,
những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Các biện pháp mà Luật sư được sử dụng đã được quy định cụ thể là các quyền mà Luật sư được thực hiện như: gặp, hỏi người bị buộc tội; có mặt trong các hoạt động tô'tụng của cơ quan tiến hành tổ tụng; thu thập, đánh giá chứng cứ;... - Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Việc giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý được thể hiện ở hoạt động tư vấn và tham gia tố tụng của Luật sư.
- Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan. Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi của người bị buộc tội, tránh các trường hợp đến cuối quá trình tô' tụng thì Luật sư từ chô'i bào chữa (Ví dụ: Luật sư từ chối bào chữa khi vụ án chuẩn bị được xét xử tại phiên tòa), làm ảnh hưởng đến tiến trình tô' tụng.
- Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục ngưòi khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật.
- Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ đinh Luật sư thì Luật sư phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan điều tra, viện kiểm sát.
- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã
ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. - Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Luật sư thực hiện hoạt động bào chữa cho người bị buộc tội trên cơ sỏ các quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ đã nêu ỏ trên. Nếu Luật sư vi phạm thì tùy tính chất, mức độ vi phạm, họ có thể bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, nêu hành vi vi phạm gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường theo quy định của BLDS 2015.
MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng.