Cách nay 12 ngày chồng tôi có nhận được một lá thư từ người bạn gái mới của Anh ta . Nội dung của lá thư là những lời nói vô văn hoá bôi nhọ danh dự của một cá nhân và đi kèm với đoạn Chat về bức hình của tôi với một người khác . Chồng tôi đã yêu cầu cô ta đừng hành động như thế và hãy để cho gia đình (GĐ) chúng tôi được yên nhưng cô ta đã không dừng lại và cô ta tìm mọi cách để lấy được bất cứ hình ảnh hay thư từ của chúng tôi qua lại trước kia để cô ta gửi cho chồng tôi , mặt dù chồng tôi đã gửi thư cho bạn trai của cổ và yêu cầu cô ta hãy dừng lại và đừng làm phiền đến cuộc sống của chúng tôi . Kính thưa LS ! Trong cuộc sống của chúng ta ai cũng có lỗi lầm trong quá khứ nhưng đều quan trọng chúng ta biết sữa cái sai của mình và hoàng thiện bản thân mình hơn cho một tương lai phía trước . Vợ chồng của chúng tôi chấp nhận đối diện với quá khứ và không muốn nó lại bị phanh phui ra , cho nên vợ chồng chúng tôi đã gửi thư nhiều lần cho cô gái đó xin cô ta hãy buông tha cho GĐ chúng tôi , nhưng họ đã không buồng tha cho GĐ chúng tôi nên bây giờ tôi muốn kiện họ 4 Tội danh (TD): Tội danh của người đàn ông đó ( TD thứ 1, tự ý chụp hình nhạy cảm và tự ý sử dụng hình nhạy cảm của tôi ) ( TD thu 2 , là nhờ một người quen của tôi cho tôi sử dụng một loại thuốc để tẩy não của tôi ) Tội danh của cô bạn gái ( TD thứ 1 , sử dụng hình ảnh và bôi nhọ nhân cách của một cá nhân) ( TD thứ 2, công kích Hạnh Phúc của một GĐ làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những đứa trẻ vô tội) Thưa LS vợ chồng chúng tôi có giữ tất cả bằng chứng và tội danh của hai người kia , và vợ chồng chúng tôi muốn kiện hai người này và muốn họ phải bồi thường cho sự tổn thức về tin thần cho GĐ chúng tôi . Kính mong quý LS hãy cho chúng tôi biết mình nên làm gì trong trường họp này ? Tôi cũng xin được trình bày rõ về cô gái kia: chúng tôi không biết cô ta sống ở đâu, chúng tôi chỉ biết cô ta hay đi nước ngoài và ở mỗi chỗ 3 tuần và những thông tin nay vợ chồng chúng tôi có từ Facebook của cô ta . Còn về phần người đàn ông kia thì chồng tôi biết cty của anh ta đang làm việc . Xin LS hãy giúp cho GĐ chúng tôi , GĐ chúng tôi cám ơn LS rất nhiều .

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi : 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009

Bộ luật dân sự 2005

Nội dung tư vấn:

Trước hết, hành vi tự ý chụp hình nhạy cảm và sử dụng hình ảnh nhạy cảm khi chưa được sự đồng ý của bạn và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc, bản thân và tinh thần của bạn có thể là hành vi vi phạm pháp luật nếu bạn chứng minh được tổn thất, thiệt hại là do hành vi của người đó mang lại. Khi đã chứng minh được thiệt hại từ phía bạn thì có thể khẳng định người đàn ông Ấn độ đó đã vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh được quy định tại điều 31 BLDS 2005:

Điều 31: Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý, trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lự hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, cong đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác. 

3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh."

Khi xác định rõ hành vi của người đó là hành vi vi phạm pháp luật thì theo quy định của BLDS về bồi thường thiệt hại do danh sự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được quy định như sau:

Điều 611. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.

Ngoài ra, bạn nên yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 99 BLDS 2005 và cụ thể tại điều 115 BLDS 2005 quy định về cấm hoặc buộc thực hiện một số hành vi nhất định để kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật trê, tránh gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.

Về vấn đề bạn trai cũ người Ấn độ đã cố tích xúi giục người khác cho bạn uống một loại thuốc gây ảnh hưởng tới sức khỏe của bạn. 

Điều 104, Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định như sau:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

  1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Trong trường hợp của chị, nếu bạn có thể chứng minh được do việc mình uống thuốc của người bạn Ấn độ đưa cho uống gây ảnh hưởng tới sức khỏe của mình thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự, bạn có thể khởi kiện người đã gây tổn hại sức khở của mình ra Tòa án để đảm bảo quyền lợi của mình.

Về trường hợp của người phụ nữ cố tình xác phạm đến danh dự, nhân phẩm của bạn, bạn có thể căn cứ vào Điều 121 Bộ luật Hình sự để khởi kiện người phụ nữ này về tội làm nhục người khác.

Tại Điều 121 Bộ luật Hình sự có quy định như sau:

" Điều 121. Tội làm nhục người khác 

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Đồng thời, bạn cũng có thể yêu cầu Tòa án giải quyết cho mình về hành vi gây ảnh hưởng tới hạnh phúc của gia đình bạn. Căn cứ vào mức độ mà Tòa án sẽ có thể xử lý hành vi gây ảnh hưởng đó tới hạnh phúc của bạn mà Tòa sẽ áp dụng hình thức xử phạt hành chính hoặc xem xét tiến hành khởi tố hình sự về hành vi này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự.