Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Đất đai của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi:  1900.6162

CƠ SỞ PHÁP LÝ:

Luật đất đai số 45/2013/QH13 ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2013;

Bộ Luật dân sự số 91/2015/QH13 ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015;

Nghị định 43/2014/NĐ-CP ban hành ngày 15 tháng 05 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013;

Nghị định 01/2017/NĐ-CP ban hành ngày 06 tháng 01 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai;

Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ban hành ngày 05 tháng 05 năm 2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13  về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án;

Thông tư 30/2014/TT-BTNMT ban hành ngày 02 tháng 06 năm 2014 quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;

Thông tư 34/2014/TT-BTNMT ban hành ngày 30 tháng 06 năm 2014 quy định về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai;

NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất yêu cầu chia thừa kế được không?

Chào Công ty Luật Minh Khuê, tôi là Vũ Ngọc Hoa. Tôi muốn gửi câu hỏi đến công ty như sau: Gia đình tôi có một mảnh đất hương hỏa do cha mẹ để lại cho 5 người con, cha mẹ chưa kịp để lại di chúc đã qua đời. Phần đất này cha mẹ tôi đã sử dụng liên tục từ rất lâu rồi, nhưng lại chưa làm thủ tục để yêu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, anh Hai tôi là người đang quản lý phần đất này, nhưng theo tìm hiểu trong đợt cấp sổ đỏ vừa rồi anh Hai tôi không hỏi ý kiến của những anh chị em còn lại mà tự ý khai tên của mình để làm sổ đỏ. Ngay sau khi biết được việc này chúng tôi đã kịp thời gửi đơn lên Ủy ban nhân dân để ngăn chặn việc ra sổ và chúng tôi sẽ gửi đơn khởi kiện lên luôn tòa án để yêu cầu chia thừa kế. Xin hỏi là nếu không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bố mẹ tôi có chia thừa kế được không?

 Mong công ty có thể phản hồi sớm yêu cầu này của chúng tôi, cảm ơn công ty Minh Khuê.

1.1 Quyền được chia thừa kế?

 Điều kiện 1: Về người thừa kế.

Một người sẽ được quyền thừa kế tài sản của người khác để lại khi họ phải đảm bảo các điều kiện nhất định. Căn cứ vào Bộ Luật dân sự số 91/2015/QH13 ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015 các điều kiện đó được thể hiện như sau:

Thứ nhất, cá nhân có quyền thừa kế khi thuộc hàng thừa kế của người chết hoặc có tên trong danh sách những người thừa kế theo di chúc .

Thứ hai, Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Thứ ba, người thuộc hàng thừa kế không rơi vào các trường hợp không được quyền hưởng di sản như sau: ( trừ trường hợp là người lập di chúc biết về hành vi của họ nhưng vẫn để lại tài sản cho những người này thông qua di chúc)

 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

 Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

 Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Điều kiện 2: Người chết có di sản để lại cho những người thừa kế.

Nếu như người chết không có di sản để lại thì người thừa kế sẽ không có tài sản để chia theo pháp luật hoặc theo di chúc. Hay nói cách khác di sản là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người đó trước khi chết đây có thể là tài sản riêng của người chết hoặc phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Nếu di sản là tài sản đang có tranh chấp với bên thứ ba về quyền sở hữu tài sản thì phải có căn cứ xác định di sản là tài sản hợp pháp của người chết thì mới được chia tức là khi đã giải quyết xong tranh chấp này sau đó mới có thể tiếp tục yêu cầu chia thừa kế.

Như vậy, phải đảm bảo cả hai điều kiện trên thì người thừa kế mới được quyền chia di sản thừa kế của người chết để lại.

1.2 Xác định quyền sử dụng đất là di sản?

Cụ thể trong trường hợp bạn nêu ra di sản thừa kế của gia đình bạn là quyền sử dụng đất, vậy để hàng thừa kế thứ nhất các các người con của cha mẹ bạn được chia di sản thừa kế thì cần xác định quyền sử dụng đất nêu trên là di sản. Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ban hành ngày 10 tháng 8 năm 2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình có thể  xác định một cách tổng quát như sau:

Trường hợp 1: Người chết để lại đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp theo Luật đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013) thì quyền sử dụng đất là di sản.

Trường hợp 2: Người chết để lại đất có một trong các loại giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 thì quyền sử dụng đất là di sản.

Trường hợp 3: Người chết để lại đất nhưng không có các giấy tờ trên, nhưng trên đất có nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) thì chia nhỏ thành các trường hợp sau:

+ Nếu có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã là đất được sử dụng hợp pháp nhưng chưa kịp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được coi là di sản.

+ Nếu có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền với nội dung là  việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất thì tài sản gắn liền với đất là di sản, Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai.

+ Nếu có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có nội dung là việc sử dụng đất là không hợp pháp, di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất không được phép tồn tại trên đất đó, thì Toà án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản là tài sản trên đất.

Trường hợp 4: Người chết để lại đất không có các giấy tờ nêu trên và không có di sản là tài sản trên đất, nếu có tranh chấp thì các bên gửi đơn đến Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật về đất đai.

Như vậy, đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng nếu được xác định quyền sử dụng đất là di sản hoặc có tài sản trên đất là di sản thì tòa án vẫn sẽ tiếp nhận và giải quyết đơn khởi kiện theo yêu cầu. ( tức là phải có tài sản là di sản tòa án mới giải quyết)

1.3 Hồ sơ khởi kiện ra tòa yêu cầu chia thừa kế?

+ Đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế.

+ Chưng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của người gửi đơn khởi kiện.

+ Giấy khai sinh của những người con.

+ Giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sử dụng đất hoặc phục vụ cho việc giải quyết vụ án (nếu có)

+ Giấy chứng tử của người chết.

2. Kiện đòi Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở?

Chào công ty Luật Minh Khuê, tôi là Phạm Thanh Lan, tôi đang ở Bình Dương, cho tôi hỏi, tôi bị lừa mất Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, xin hỏi bây giờ tôi có kiện ra tòa án để đòi lại được không? Tôi cảm ơn.

Theo nội dung của Công văn số 141/TANDTC-KHXX ban hành ngày 21 tháng 09 năm 2011 V/v thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản.

Trường hợp người khởi kiện chỉ đòi lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản do người khác đang chiếm giữ bao gồm cả Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở … thì Tòa án giải quyết như sau:
+ Trường hợp chưa thụ lý vụ án: Tòa án trả lại đơn kiện cho người khởi kiện (Trong văn bản trả lại đơn khởi kiện, Tòa án phải ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện là yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.)
+ Trường hợp đã thụ lý vụ án:  Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý; trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự; quyết định trả lại tiền tạm ứng án phí cho đương sự.
=> Khi trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên, Tòa án phải hướng dẫn cho người khởi kiện có thể yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết theo thẩm quyền buộc người chiếm giữ bất hợp pháp giấy tờ nêu trên phải trả lại cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với loại giấy tờ đó. Trong trường hợp giấy tờ bị mất thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với loại giấy tờ nêu trên có quyền đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp lại giấy tờ bị mất theo quy định của pháp luật . Bên có lỗi trong việc làm mất giấy tờ phải chịu toàn bộ chi phí, lệ phí trong việc cấp lại giấy tờ mới.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê