1. Sự cần thiết bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá có thể gây ra những ảnh hưởng rất lớn về môi trường, đặc biệt là các trường hợp xuất nhập khẩu chất thải, các chế phẩm sinh học có chứa độc tố, vi trùng gây bệnh; xuất nhập khẩu các loài động, thực vật có mầm bệnh hoặc có nguy cơ biến đổi nguồn gen; xuất nhập khẩu các dây chuyền, thiết bị sản xuất lạc hậu... Thời gian vừa qua, rất nhiều vụ nhập khẩu chất thải, các sản phẩm gây ảnh hưởng xấu tới môi trường vào Việt Nam đã bị phát hiện và Xử lý kịp thời.

Hoạt động xuất nhập khẩu các sản phẩm nói trên không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường trong quá trình thực hiện các công đoạn của hoạt động xuất nhập khẩu, (vận chuyển, lưu kho bến bãi...) mà còn gây ảnh hưởng rất lớn tói môi trường trong quá trình sử dụng các sản phẩm xuất nhập khẩu đó.

Chính vì vậy, một vấn đề hết sức quan trọng đặt ra là Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu. Trong đỉều kiện hiện nay các nước phát triển đang tìm mọi cách để xuất khẩu các sản phẩm, các loại chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường sang các nước chậm phát triển nhằm né tránh trách nhiệm Xử lý các chất thải này thì Nhà nước ta cũng như các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải có những biện pháp thích hợp để bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu được hiệu quả nhất.

2. Quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động xuất nhập khẩu

Hoạt động xuất nhập khẩu được thực hiện với nhiều loại hàng hoá, sản phẩm, trong số đó có nhiều sản phẩm có nguy cơ gây ảnh hưởng lớn tới môi trường là: phế liệu, nguyên liệu thứ phẩm, các loại động, thực vật; chế phẩm sinh học; các loại thiết bị công nghệ cũ đã qua sử dụng.

2.1 Nghĩa vụ của Nhà nước

+ Xây dựng và tổ chức thực hiện các quy chuẩn về bảo vệ môi trường ưong hoạt động xuất nhập khẩu:

Muốn kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu hiệu quả thì trước hết Nhà nước cần xây dựng được hệ thống quy chuẩn về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là căn cứ pháp lý, khoa học cho việc đánh giá mức độ ảnh hưởng tới môi trường của các sản phẩm trong quá trình xuất nhập khẩu. Từ đó xác định các sản phẩm nào được phép và không được phép xuất nhập khẩu (dưới góc độ bảo vệ môi trường) ở thị trường Việt Nam.

>> Xem thêm:  Sinh thái học là gì ? Cấu trúc, vai trò và ý nghĩa của sinh thái học

Tuy nhiên, bên cạnh các quy chuẩn môi trường nói chung, Nhà nước cần ban hành danh mục cụ thể về các sản phẩm bị cấm xuất nhập khẩu (các sản phẩm có ảnh hưởng xấu tới môi trường) ở thị trường Việt Nam. Trên cơ sở danh mục này, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ có sự điều chinh hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình để hạn chế tình ttạng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu.

Hiện nay, Nhà nước ta đang từng bước xây dựng được hệ thống quy chuẩn về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu. Ngoài các quy chuẩn môi trường trong hệ thống quy chuẩn môi trường quốc gia, Nhà nước đã ban hành các vàn bản pháp luật quy định cụ thể danh mục các sản phẩm, thiết bị công nghệ cũ, có gây ảnh hưởng xấu tới môi trường không được phép xuất nhập khẩu ở thị trường Việt Nam. Những quy định này đã thể hiện rõ trong Quyết định số 73/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sàn xuất. Danh mục này liệt kê cụ thể các loại phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu, điều kiện đối với cá nhân, tổ chức nhập khẩu phế liệu. Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã quy định cụ thể các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá (Điều 75 Luật bảo vệ môi trường năm 2014) và bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu (Điều 76 Luật bảo vệ môi trường năm 2014). Đây là một điều kiện quan trọng để bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu đạt hiệu quả cao.

Việc xây dựng hệ thống quy chuẩn bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu là hết sức cần thiết đối với công tác kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là căn cứ pháp lý để Nhà nước xác định các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu đồng thời đây cũng là căn cứ để các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực hiện ttách nhiệm bảo vệ môi trường trong hoạt động của mình.

+ Tổ chức kiểm tra, giám định các yêu câu về môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu:

Tổ chức kiểm tra, giám định các yêu cầu về môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu giữ vai ttò quyết định đối với việc bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu bởi nó dẫn tói những quyết định cho phép và không cho phép việc nhập hoặc xuất khẩu một loại sản phẩm nào đó trên cơ sở đánh giá sự tác động tới môi trường của sản phẩm đó.

Hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó lực lượng hải quan, lực lượng quản lí thị trường và Bộ tài nguyên và môi trường giữ vai ttò chủ đạo. Giữa các cơ quan này cần có sự phối hợp đồng bộ với nhau trong việc làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá, kiểm tra giám định những lô hàng cụ thể để từ đố dỉ tới những quy định thống nhất.

Tổ chức kiểm ữa, giám định các yêu cầu về môi ttường trong hoạt động xuất khẩu có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như gián tiếp ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế đất nước. Do vậy khi kiểm tra giám định sự ảnh hưởng tới môi trường của các hoạt động xuất nhập khẩu thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xem xét các lợi ích môi trường gắn liên với các lợi ích kinh tế để có những biện pháp giải quyết phù hợp bảo đảm phát triển bền vững trong hoạt động xuất nhập khẩu.

Kiểm tra, giám định các yêu cầu về môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu phải được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa các biện pháp pháp lý với các biện pháp khoa học kĩ thuật, đặc biệt là việc đo lường giám định mẫu chất thải độc tố vi trùng gây bệnh, đòi hòi phải có những phương tiện khoa học kĩ thuật hiện đại với đội ngũ chuyên viên có năng lực trình độ để thu được những kết quả giám định chính xác, khách quan. Kết luận, kiểm tra, giám định đối với các sản phẩm trong hoạt động xuất nhập khẩu là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền cho phép nhập khẩu một sản phẩm cụ thể hoặc buộc áp dụng các biện pháp Xử lý khác như tái xuất, tiêu huỷ...

+ Thực hiện các biện pháp phòng chống khắc phục ô nhiễm môi trường đối với các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường;

Trong quá trình kiểm tra sản phẩm xuất nhập khẩu nếu phát hiện thấy các sản phẩm không bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần áp dụng ngay các biện pháp phòng chống, khắc phục ô nhiễm môi trường do sản phẩm đó gây ra. Các biện pháp phòng chống khắc phục này bao gồm:

>> Xem thêm:  Cô ta (QUOTA) là gì ? Khái niệm QUATA được hiểu như thế nào ?

+ Lưu giữ các sản phẩm có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trong các kho tàng bến bãi và có biện pháp giữ gìn, bảo vệ các sản phẩm đó không để các sản phẩm đó gây ô nhiễm môi trường.

+ Thực hiện tạm nhập tái xuất đối với các sản phẩm có gây ô nhiễm môi trường (trong những trường hợp có thể tái xuất).

+ Thực hiện tiêu huỷ các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường trong trường hợp không tái xuất.

+ Có thể phân loại các sản phẩm trong một lô hàng xuất nhập khẩu thành từng loại để có thể tận dụng các sản phẩm không gây ảnh hưởng đến môi trường hoặc có thể áp dụng các giải pháp khoa học để Xử lý tái chể biến các sản phẩm đó.

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phối hợp với nhau trong việc thực hiện các biện pháp phòng chống, khắc phục ô nhiễm môi trường trong quá trình xuất nhập khẩu. Sự phối hợp đó được thể hiện ở các cơ quan cố thẩm quyền khác nhau như Bộ tài nguyên và môi trường, sở tài nguyên và môi trường, ủy ban nhân dân địa phương, lực lượng hải quan, ban quản lí các bến cảng.

+ Thanh tra về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu

Đây là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm tra phát hiện các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu để từ đó Xử lý hoặc kiến nghị các biện pháp Xử lý theo quyết định của pháp luật. Cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng này là thanh ưa môi trường, Bộ tài nguyên và môi trường, thanh tra môi trường thuộc sở tài nguyên và môi trường.

Cơ quan thanh tra phải kết hợp giữa các biện pháp pháp lý với các biện pháp nghiệp vụ môi trường, kiểm tta hiện trạng các lô hàng xuất nhập khẩu, phân tích các mẫu chất thải, vi trùng gây bệnh có lẫn trong lô hàng, giám định xuất xứ, chất lượng các dây chuyền công nghệ cũ đã qua sử dụng.

Cùng với hoạt động thanh ưa thì các cơ quan thẩm quyền phải thực hiện công việc kiểm ưa thường xuyên và báo cáo định kì về tình hình xuất nhập khẩu các sản phẩm có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường ở địa phương. Định kì 6 tháng 1 lần sở tài nguyên và môi trường phải báo cáo bằng văn bản với Bộ tài nguyên và môi trường (trực tiếp cho Tổng cục môi trường) về tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu, sử dụng phế liệu nhập khẩu, làm nguyên liệu sản xuất tại địa bàn quản lí.

+ Giải quyết ưanh chấp về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu

>> Xem thêm:  Xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí ?

Tranh chấp về bảo vệ môi trường ưong hoạt động xuất nhập khẩu là những mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các tổ chức, cá nhân (có thể là cơ quan nhà nước) khác nhau với các tổ chúc, cá nhân có hoạt động xuất nhập khẩu khi một ưong các bên cho rằng hoạt động xuất nhập khẩu này gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và quyền lợi hợp pháp của họ.

Các ưanh chấp môi trường frong hoạt động xuất nhập khẩu thường xảy ra khi chủ thể nhập khẩu những lô hàng như phê liệu, chất thải tài nguyên sinh vật gây bệnh... những sản phẩm này ưong quá trình xuất nhập khẩu vận chuyển sử dụng có gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và lợi ích của nhân dân và các vùng lân cận.

Trong thực tế, các tranh chấp môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu thường gắn liền với một chủ thể nhập khẩu các loại sản phẩm gây ảnh hưởng xấu tới môi trường, vi phạm pháp luật môi trường và không đồng ý với phương thức Xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chính vì vậy trong quá trình kiểm tta, giám định chất lượng các lô hàng cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải căn cứ vào các quy định pháp luật cụ thể cũng như các tiêu chuẩn khoa học để có kết luận khách quan để chủ thể xuất nhập khẩu hàng hoá yên tâm tin tưởng vào cơ quan nhà nước để hạn chế tranh chấp xảy ra.

Giải quyết tranh chấp về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm khôi phục bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ íhể xuất nhập khẩu và các chủ thể khác trong quan hệ tranh chấp, qua đó bảo vệ lợi ích môi trường nói chung của cộng đồng.

Giải quyết tranh chấp được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền như sở tài nguyên và môi trường, Bộ tài nguyên và môi trường, toà án. Việc giải quyết ttanh chấp phải bảo đảm các nguyên tắc: phát triển bền vững (tức là phải kết hợp hài hoà giữa các yêu cầu về bảo vệ môi trường với việc bào đảm các lợi ích kinh tế của các chủ thể xuất nhập khẩu), thực hiện các biện pháp Xử lý nhanh chóng, kịp thòi đối với các lô hàng gây hại môi trường.

Chủ thể nhập khẩu các sản phẩm gây hại tới môi trường phải chịu ữách nhiệm bồi thường thiệt hại do hoạt động xuất nhập khẩu gây ra đồng thời chịu ttách nhiệm về các chi phí nhằm phòng chống khắc phục các hậu quả môi trưởng do hoạt động xuất nhập khẩu đó gây nên (ví dụ các chi phí về lưu kho, bến bãi, chi phí làm sạch môi trường, Xử lý vật phẩm gây ô nhiễm...).

+ Quan hệ quốc tế về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu

Đây là hoạt động có ý nghĩa lớn đối với hiệu quả công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu, bởi lẽ thông qua quan hệ quốc tế sệ thiết lập sự phối hợp giữa các quốc gia, giữa các tổ chức quốc tế trong việc xác định các đỉều kiện về môi trường trong việc xuất nhập khẩu hàng hoá cũng như thẩm định yêu cầu về môi trường trong xuất nhập khẩu đối vói những lô hàng xuất nhập khẩu cụ thể.

Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này được thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng quan trọng nhất là việc tham gia các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu, ví dụ Công ước Cites - 1973 về buôn bán các loại động vật hoang dã nguy cấp. Công ước về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và tiêu huỷ chúng (Công ước Basel, 1989). Thành viên Công ước chỉ được xuất nhập khẩu các sản phẩm phù hợp với nguyên tắc của công ước nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động dầu khí.

Quan hệ quốc tế về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu còn được thể hiện qua các hoạt động cụ thể như phối hợp với các quốc gia, tổ chức quốc tế trong việc giám định nguồn gốc xuất xứ, chất lượng thiết bị dây truyền công nghệ cũ đã qua sử dụng, phối hợp tái suất hàng hoá gây ô nhiễm môi ttường, Xử lý các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường.

>> Xem thêm:  Ô nhiễm không khí là gì ? Kiểm soát ô nhiễm không khí như thế nào ?

2.2 Nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân

Trong quá trình thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, các tổ chức, cá nhân phải thục hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động của mình với các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất: Không được thực hiện các hành vỉ xuất nhập khẩu có khả năng gây ảnh hưởng xấu tới môi trường đã bị pháp luật nghiêm cấm. Những hành vi này được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật, như Luật khoáng sản năm 2010, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 (Điều 75, Điều 76) cùng nhiều văn bản pháp luật khác. Những hành vi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu bị pháp luật nghiêm cấm bao gồm:

+ Cấm nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, nhập khẩu, xuất khẩu chất thài.

+ Cấm nhập khẩu, quá cảnh chất thải dưới mọi hình thức.

+ Cấm nhập khẩu, quá cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch, vi sinh vật ngoài danh mục cho phép.

+ Cấm nhập khẩu các loại pháo nổ.

+ Cấm nhập khẩu phế liệu không sử dụng vào mục đích làm nguyên liệu sản xuất.

+ Cấm xuất, nhập khẩu các loại khoáng sản nằm trong danh mục khoáng sản cấm xuất, nhập khẩu được Chính phủ quy định trong từng thời kì.

+ Cấm nhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán, sử dụng giống cây bị nhiễm sâu bệnh nặng hoặc mang sâu bệnh nguy hiểm.

>> Xem thêm:  Bảo vệ môi trường là gì ? Phân tích về hiện trạng bảo vệ môi trường ?

+ Cấm nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật hết hạn sử dụng, thuốc bảo vệ thực vật nằm trong danh mục cấm sử dụng, thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc, thuốc bảo vệ thực vật không có nhãn hoặc nhãn hiệu không đúng quy định của pháp luật, thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục hạn chế sử dụng và được phép sử dụng ở Việt Nam).

+ Cấm xuất, nhập khẩu hàng hoá thuỷ sản thuộc danh mục cấm xuất, nhập khẩu.

+ Cấm xuất, nhập khẩu các loại động vật rừng quý hiếm vào mục đích kinh doanh (danh mục động thực vật quý hiếm được Chính phủ quy định cụ thể. Việc xuất nhập khẩu các loài động, thực vật này chỉ được sử dụng vào mục đích tạo giống gây nuôi, nghiên cứu khoa học, ưao đổi quốc tế).

Thứ hai: Trong quá trình thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu các loại sản phẩm có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các tổ chức, cá nhân phải chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải có giấy phép về môi trường liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu. Giấy phép này rất đa dạng, đây không phải là giấy phép yề bảo vệ môi trường do một cơ quan nhà nước cấp mà nó có thể do các cơ quan nhà nước khác nhau cấp nhằm bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong từng hoạt động xuất nhập khẩu cụ thể. Ví dụ: Bộ tài nguyên và môi trường cấp phép về việc nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, xuất nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ cũ đã qua sử dụng, xuất nhập khẩu khoáng sản... Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cấp giấy phép đối với hoạt động xuất nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật, các giống cây trồng, động, thực vật quý hiếm.

Thứ ba: Các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu các sản phẩm có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường phải thoả mãn các điều kiện nhất định. Tuỳ theo từng loại sản phẩm khác nhau mà các điều kiện xuất nhập khẩu có thể khác nhau, cụ thể:

+ Việc nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất phải bảo đảm:

- Chỉ nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất.

- Không được lợi dụng việc nhập khẩu phế liệu để nhập khẩu chất thải dưới bất kì hình thức nào.

- Phế liệu trước khi nhập khẩu phải bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc các đỉều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc gia nhập.

- Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu phải có kho bãi dành riêng cho việc tập kết phế liệu nhập khẩu bảo đảm các điều kiện về môi trường trong quá trinh lưu giữ phế liệu nhập khẩu đồng thời phải có đủ năng lực Xử lý các chất thải đi kèm phế liệu nhập khẩu.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục đăng ký mã số hải quan theo quy định mới 2021 ?

- Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất phải tổ chức Xử lý tạp chất sau khi loại ra khỏi phế liệu nhập khẩu, không được cho, bán tạp chất đó.

- Trong thời hạn ít nhất là 5 ngày làm việc trước khi tiến hành bốc dỡ, vận chuyển phế liệu nhập khẩu từ cửa khẩu về kho, bến bãi tập kết, chủ thể nhập khẩu phải thông báo bằng văn bản về việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ cũ đã qua sử dụng phải bảo đảm cho sở tài nguyên và môi trường ở địa phương có cơ sở sản xuất hoặc kho, bãi chứa phế liệu nhập khẩu, các thông tin về chủng loại, số lượng, trọng lượng phế liệu nhập khẩu, địa điểm cửa khẩu nhập khẩu phế liệu, tuyến vận chuyển phế liệu, địa điểm kho bãi tập kết phế liệu, địa điểm đưa phế liệu vào sản xuất.

- Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu phải kí quỹ theo quy định của pháp luật.

+ Việc nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá phải bảo đảm các yêu cầu sau:

- Máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất, hàng hoá nhập khẩu phải đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.

- Cấm nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất, hàng hoá sau đây: Máy mốc, thiết bị, phương tiện không đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường; nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hoá chất, hàng hoá thuộc danh mục cấm nhập khẩu; máy móc, thiết bị, phương tiện bị nhiễm chất phóng xạ, vi trùng gây bệnh, chất độc khác chưa được tẩy rửa hoặc không có khả năng làm sạch; thực phẩm, thuốc y tế, thuốc bảo vệ động vật, thực vật đã hết hạn sử dụng hoặc không đạt tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Chủ hàng nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất, hàng hoá nằm trong đanh mục bị cấm (khoản 2 Điều 75 Luật bảo vệ môi trường năm 2014) phải tái xuất hoặc tiêu huỷ, thải bỏ theo quy định của pháp luật về quản lí chất thải; trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng đến môi trường thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị Xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

- Hàng hoá, thiết bị, phương tiện có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam phải được phép và chịu sự kiểm tta về môi trường của cơ quan quản lí nhà nước về môi trường.

Việc nhập khẩu các loại thuốc bảo vệ thực vật, chê phẩm sinh học, các nguồn gen động thực vật, các loài động thực vật phải đảm bảo yêu cầu về bảo vệ kiểm dịch thực vật, không gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, mất cân bằng sinh thái.

Thứ tư: Các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu các sản phẩm có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao (nhạy cảm về môi trường), phải bảo đảm xuất nhập khẩu các sản phẩm đúng chủng loại được quy định cụ thể trong văn bản pháp luật. Chẳng hạn, hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất phải phù hợp chùng loại được quy định tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 73/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, hoạt động nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật phải đảm bảo đúng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục thuốc được phép nhập khẩu theo quy định của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

>> Xem thêm:  Môi trường là gì ? Vai trò của môi trường là gì ? Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ?

Thứ năm: Trong quá trình xuất nhập khẩu các sản phẩm, nếu tổ chức, cá nhân xuất nhập khẩu vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường thì tuỳ mức độ nặng nhẹ sẽ bị Xử lý theo quy định của pháp luật (trách nhiệm hành chính, dân sự, hình sự) đồng thòi phải chịu mọi chi phí cho việc Xử lý sản phẩm gây ô nhiễm môi trường (chi phí lưu kho, bến bãi, tái xuất, chi phí tiêu huỷ sản phẩm, khắc phục hậu quả môi trường) đồng thời phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra. Các tổ chức, cá nhân xuất nhập khẩu vi phạm pháp luật môi trường phải thực hiện ngay các biện pháp bảo vệ môi trường theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Tái xuất, tiêu huỷ sản phẩm gây ô nhiễm môi trường ...

Ngoài các nghĩa vụ bảo vệ môi trường cơ bản nói trên của các chủ thể xuất nhập khẩu thì các tổ chức, cá nhân khác cũng có nghĩa vụ tham gia bào vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu, như: phát hiện, ngăn chặn, báo cáo kịp thời với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các hành vi xuất nhập khẩu có dấu hiệu vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, cùng tham gia khắc phục ô nhiễm môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu

Vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu thường phổ biến ở các dạng xuất nhập khẩu, quá cảnh, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, các loại phế liệu không theo quy định của cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường hoặc không được cơ quan có thẩm quyền về quản lí bảo vệ môi trường cho phép; nhập khẩu công nghệ hoá chất độc hại, sinh vật biến đổi gen và các sản phẩm của chúng không theo quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, nhập khẩu pháo nổ.

Vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu có thể bị Xử lý ở các dạng trách nhiệm pháp lý sau:

+ Trách nhiệm hành chính: Vi phạm hành chính trong hoạt động xuất nhập khẩu bị Xử lý theo quy định ở Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

+ Trách nhiệm hình sự: Áp dụng đối vói các hành vi vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định ở Bộ luật hình sự năm 2015 , sửa đổi bổ sung năm 2017.

+ Trách nhiệm dân sự: Người vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu phải khôi phục hiện trạng môi trường và bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)