Luật sư tư vấn:

Cơ sở pháp lý:

Pháp lệnh ngoại hối 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013);

- Quyết định số 170/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về nước;

- Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ngoại hối;

- Nghị định 89/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định điều kiện đối với hoạt động đại lý đổi ngoại tệ, hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ của tổ chức kinh tế;

- Thông tư 34/2015/TT-NHNN ngày 31/12/2015 hướng dẫn hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ;

- Thông tư 11/2016/TT-NHNN ngày 29/6/2016 sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động cung ứng dịch vụ nhận và chi, trả ngoại tệ, hoạt động đại lý đổi ngoại tệ, bàn đổi ngoại tệ của cá nhân.

 

1. Kiều hối là gì?

Kiều hối là số tiền ngoại tệ do người Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài gửi về cho gia đình và người thân ở Việt Nam.

Chuyển tiền kiều hối là hình thức những người sinh sống tại quốc gia khác, đến những địa điểm chấp nhận giao dịch để làm thủ tục gửi tiền về Việt Nam cho người nhận tại nước nhà.

Kiều hối đang góp phần tạo thêm nguồn lực đáng kể cho nền kinh tế đất nước, giảm bớt sự mất cân đối trong cán cân thanh toán, cải thiện dự trữ ngoại hối, giảm sức ép tăng tỷ giá… Với tình hình người dân sang nước học tập và làm việc nhiều như hiện nay thì theo ước tính Việt Nam là nước xếp thứ 10 trên thế giới nằm trong top nước nhận tiền kiều hối nhất thế giới.

 

2. Kiều hối có vai trò gì?

Kiều hối có vai trò rất quan trọng đối với nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt là các nước đang phát triển. Đối với Việt Nam, kiều hối ngày càng trở nên quan trọng. Trong những năm gần đây, dòng kiều hối vào Việt Nam không ngừng gia tăng cả về số tuyệt đối và số tương đối so với GDP, góp phần bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của một bộ phận người dân nhận kiều hối.

Hiện nay, ngoài kiều hối thì cũng có những hình thức chuyển tiền khác từ nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, so với các nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) hay viện trợ thì kiều hối là một nguồn ngoại tệ có tính ổn định. Ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế nên đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế

+ Bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của một bộ phận người dân nhận kiều hối.

+ Tạo thêm nguồn lực cho nền kinh tế đất, giảm bớt sự mất cân đối trong cán cân thanh toán, cải thiện dự trữ ngoại hối, giảm sức ép tăng tỷ giá…

+ Cân bằng vãng lai, tăng dự trữ ngoại hối quốc gia, giảm thiểu sự phụ thuộc nguồn vốn nước ngoài cũng như sức ép tỷ giá của đồng đôla Mỹ.

+ Tạo thêm công ăn việc làm, ổn định đời sống cho người dân thông qua đầu tư, kinh doanh của Việt kiều, đồng thời góp phần cải thiện ngân sách cho nhà ở, y tế, giáo dục.

 

3. Pháp luật về chuyển và chi trả kiều hối

Kiều hối là tiền được những người đang cư trú hay lao động ở nưốc ngoài (kiều dân) chuyển về cho thân nhân tại Việt Nam. Đến nay kiều hối còn được hiểu rộng hơn, bao gồm cả vàng. (Quyết định số270-CT ngày 20/10/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc “Tiếp nhận và chi trả kiều hốì bằng vàng”.)

Năm 1957, một trong những văn bản sớm nhất đề cập đến kiều hối được ban hành. (Thông tư số 145-TTg ngày 09/4/1957 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Xây dựng và chấp hành kế hoạch ngoại hối)

Năm 1970, pháp luật quy định chính sách khuyến khích Việt kiều chuyển ngoại tệ tư bản và vàng về nước. (Quyết định số 155-CP ngày 21/8/1970 của Hội đồng Chính phủ về “Chính sách khuyến khích Việt kiểu chuyển ngoại tệ tư bản và vàng về nước)

Năm 1980, pháp luật quy định: “vàng, kim loại quý, đá quý được Nhà nước thu mua theo giá khuyến khích bằng giá chỉ đạo của Nhà nước cộng thêm một tỷ lệ khuyến khích do Ngân hàng Nhà nưốc công bố”. (Điều 2 Quyết định số 32-CP ngày 31/01/1980 của Hội đồng Chính phủ về “Chính sách khuyên khích việc chuyển ngoại tệ vào Việt Nam)

Ngoại tệ, giấy tờ có giá chuyển vào Việt Nam hợp pháp, bán cho Nhà nước được hưởng chế độ ưu đãi cộng thêm phụ cấp từ 100% đến 150% tính theo tỷ giá mua giao dịch hiện hành. Bán vàng, bạc, bạch kim, kim cương lấy đồng Việt Nam được cộng thêm 30% phụ cấp vào giá mua kinh doanh hiện hành. Bán ngoại hối gửi tiền Việt Nam vào quỹ tiết kiệm, sẽ được hưởng lãi suất bằng 150% mức lãi suất trả cho người gửi tiết kiệm trong nước và được dự quay sổ mở thưởng.

Năm 1991, pháp luật quy định: Việt kiều khi về nước mang theo hoặc gửi về nước ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý, v.v. thì không hạn chế số lượng nhưng đều phải khai báo và thực hiện đúng chế độ kiểm tra hải quan.

Năm 1998, Chính phủ đã “cho phép các tổ chức có đăng ký kinh doanh dịch vụ kiều hốĩ được tiếp nhận vàng của Việt kiều chuyển về và chi trả cho thân quyến của họ trong nước bằng vàng sau khi đã thu cho Nhà nưóc một khoản phí dịch vụ (bằng vàng hoặc bằng ngoại tệ mạnh)” (mức phí tối thiểu là 7% tổng số lượng vàng nhập vể từng chuyến). (Điều 1 Quyết định sô' 270-CT ngày 20/10/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưỏng về việc “Tiếp nhận và chi trả kiểu hối bằng vàng)

Năm 1999, pháp luật quy định: người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài được chuyển ngoại tệ từ nước ngoài vào Việt Nam dưới ba hình thức sau:

+ Chuyển ngoại tệ thông qua các tổ chức tín dụng được phép;

+ Chuyển ngoại tệ thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính quốc tê;

+ Cá nhân mang theo người vào Việt Nam.

Người nhận kiều hối (có thu nhập từ kiều hối) không phải đóng thuế thu nhập đối với các khoản ngoại tệ từ nước ngoài chuyển về. Cho đến nay, “Thu nhập từ kiểu hối” vẫn được miễn thuế thu nhập cá nhân. (Khoản 8 Điều 4 về “Thu nhập được miễn thuể’, Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014))

Người thụ hưởng nhận ngoại tệ, có quyền: bán cho các tổ chức tín dụng hoặc các bàn đổi ngoại tệ; gửi tiết kiệm ngoại tệ; mở và gửi vào tài khoản tiền gửi ngoại tệ cá nhân tại các tổ chức tín dụng; sử dụng ngoại tệ vào các mục đích khác. (Thông tư số 02/2000/TT-NHNN)

 

4. Quy định hoạt động kiều hối của ngân hàng thương mại

Năm 2003, pháp luật quy định về việc thành lập và hoạt động của công ty kiều hối liên quan đến ngân hàng thương mại như sau:

Thứ nhất, ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập công ty kiều hối để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh kiều hối theo quy định của pháp luật;

Thứ hai, công ty kiều hối được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một ngân hàng thương mại cổ phần sở hữu;

Thứ ba, ngân hàng thương mại cổ phần sở hữu công ty kiều hối không được cấp tín dụng cho công ty kiều hối trực thuộc;

Thứ tư, công ty kiều hối trực thuộc ngân hàng thương mại cổ phần không được thành lập công ty trực thuộc.

Năm 2018, pháp luật quy định: ngân hàng thương mại được góp vốn, mua cổ phần để thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết ở trong nước hoạt động trong lĩnh vực kiều hối; kinh doanh ngoại hối, vàng; góp vốn, mua cổ phần vào doanh nghiệp khác trong nước hoạt động ngoài lĩnh vực kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng. (Điểm a khoản 1 Điều 1 Thông tư 51/2018/TT-NHNN)

Không có quy định về việc công ty tài chính và tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác được góp vốn, mua cổ phần để thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết ở trong nước hoạt động trong lĩnh vực kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng.

Hoạt động chi trả kiều hối không được quy định cụ thể và trực tiếp trong Luật Các tổ chức tín dụng, mà chỉ được nhắc đến một cách gián tiếp trong quy định: ngân hàng thương mại được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết và góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kiều hối, kinh doanh ngoại hối.

 

5. Cách thức chuyển kiều hối về Việt Nam

Thưa luật sư, nhà em có người nhà lao động tại Mỹ. Hiện nay anh muốn gửi tiền về Việt Nam. Luật sư cho em hỏi có nhwungx cách thức nào để chuyển tiền về Việt Nam hợp pháp và an toàn ạ?? Và có thể gửi tại cơ quan nào ạ? Rất mong nhận được giải đáp. Xin cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, thắc mắc của bạn chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Theo quyết định 170/1999/QĐ-TTg ngày 19/8/1999 thì người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài chuyển tiền kiều hối về Việt Nam qua những hình thức sau:

+ Chuyển tiền kiều hối qua ngân hàng – tổ chức tín dụng.

+ Chuyển tiền thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính quốc tế.

+ Cá nhân mang theo người vào Việt Nam.

Trường hợp bạn hỏi, anh bạn có thể lựa chọn hình thức chuyển kiều hối qua ngân hàng hoặc chuyển tiền thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính quốc tế.

Các đối tượng được nhận ngoại tệ gửi về Việt Nam được quy định tại Điều 5 Quyết định 170/1999/QĐ-TTbao gồm:

1. Tổ chức tín dụng được phép.

2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính quốc tế.

3. Các tổ chức kinh tế được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép làm dịch vụ nhận và chi trả ngoaị tệ hoặc tổ chức kinh tế làm đại lý cho tổ chức tín dụng thực hiện việc chi trả ngoại tệ ở trong nước.

4. Các tổ chức tín dụng (bao gồm tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối và tổ chức tín dụng không được phép hoạt động ngoại hối) làm đại lý cho các tổ chức kinh tế được phép làm dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ ở trong nước.

5. Các tổ chức tín dụng (bao gồm tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối và tổ chức tín dụng không được phép hoạt động ngoại hối) làm đại lý cho các tổ chức tín dụng được phép

Như vậy, anh trai bạn có thể lựa chọn một trong các cách thức trên để gửi tiền về Việt Nam một cách an toàn và hợp pháp.

 

6. Mang theo người ngoại tệ vào Việt Nam có cần khai báo không?

Thưa luật sư, em có vấn đề pháp lý cần được luật sư giải đáp ạ. Tháng tới em có kế hoạch về Việt Nam và có mang theo 1 số tiền đô về. Luật sư cho em hỏi, việc mang tiền đô về có cần phải xin phép hay khai báo không ạ? Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Xin cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, thắc mắc của bạn chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Căn cứ Điều 2 Thông tư 15/2011/TT-NHNN quy định việc mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt của cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh quy định về mức ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt phải khai báo Hải quan cửa khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh như sau:

"Điều 2. Mức ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt phải khai báo Hải quan cửa khẩu khi xuất cảnh, nhập cảnh

1. Cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam bằng hộ chiếu mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt trên mức quy định dưới đây phải khai báo Hải quan cửa khẩu:

a) 5.000 USD (Năm nghìn Đô la Mỹ) hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương;

b) 15.000.000 VNĐ (Mười lăm triệu đồng Việt Nam).

2. Trường hợp cá nhân nhập cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt bằng hoặc thấp hơn mức 5.000 USD hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương và có nhu cầu gửi số ngoại tệ tiền mặt này vào tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ của cá nhân mở tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ngoại hối (sau đây gọi chung là tổ chức tín dụng được phép), cũng phải khai báo Hải quan cửa khẩu. Tờ khai nhập cảnh – xuất cảnh có xác nhận của Hải quan cửa khẩu về số ngoại tệ tiền mặt mang vào là cơ sở để tổ chức tín dụng được phép cho gửi ngoại tệ tiền mặt vào tài khoản thanh toán.

3. Mức ngoại tệ tiền mặt và đồng Việt Nam tiền mặt quy định phải khai báo Hải quan cửa khẩu quy định tại Khoản 1 Điều này không áp dụng đối với những cá nhân mang theo các loại phương tiện thanh toán, giấy tờ có giá bằng ngoại tệ hoặc bằng đồng Việt Nam như séc du lịch, thẻ ngân hàng, sổ tiết kiệm, các loại chứng khoán và các loại giấy tờ có giá khác.”

Theo đó, nếu bạn mang theo số tiền từ 5000 đô trở lên là sẽ phải thực hiện thủ tục khai báo hải quan khi nhập cảnh vào Việt Nam.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về "Kiều hối là gì? Pháp luật về chuyển và nhận kiều hối".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)