Kiểu pháp luật tư sản là kiểu pháp luật thứ ba trong lịch sử xã hội loài người, ra đời gắn liền với sự hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, cách mạng dân chủ tư sản và sự ra đời của nhà nước tư sản.

Các văn bản pháp luật tư sản quan trọng đầu tiên là bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, Bản tuyên ngôn nhân quyển và dân quyền năm 1789 của Pháp, Bộ luật dân sự Napôlêông năm 1804, Bộ luật thương mại năm 1807, Bộ luật hình. sự năm 1810 của Pháp.

So với pháp luật phong kiến, pháp luật tư sản có những điểm tiến bộ hơn thể hiện ở chỗ: 1) Phát triển toàn diện cả về hình sự và dân sự, về những thiết chế nhà nước và thiết chế về công dân; 2) Thiết lập nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; 3) Bãi bỏ các chế tài dã man trong luật hình sự của nhà nước phong kiến; 4) Xây dựng đạo luật cơ bản của nhà nước là hiến pháp với yêu cầu các cơ quan nhà nước kể cả nguyên thủ quốc gia phải hoạt động trong khuôn khổ của hiến pháp; 5) Quy định các quyền tự do dân chủ của công dân và các quyền con người trong đạo luật cơ bản của nhà nước... Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân và quyền con người; 6) Thiết lập nguyên tắc chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân một cách hình thức; 7) Thiết lập nghị viện là cơ quan đại diện của các tầng lớp dân cư trong xã hội, do bầu cử thành lập nên, có chức năng lập pháp và giải quyết các vấn đề quan trọng của đất nước; 8) Kĩ thuật lập pháp phát triển cao hơn pháp luật phong kiến. Các bộ luật được xây dựng theo từng lĩnh vực quan hệ xã hội như bộ luật hình sự, bộ luật dân sự, bộ luật thương mại, bộ luật bầu cử, bộ luật tố tụng hình sự, bộ luật tố tụng dân sự... (các bộ luật thời kì phong kiến thường là các bộ luật hỗn hợp cả hình sự lẫn dân- sự, thương mại); 9) Thay đổi mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật.

Pháp luật tư sản tồn tại dưới ba hình thức là pháp luật tập quán, pháp luật án lệ và văn bản quy phạm pháp luật (pháp luật thành văn). Pháp luật tư sản, xét trên nhiều phương diện, là một phát triển dài so với pháp luật phong kiến, pháp luật chiếm hữu nô lệ, nhưng vẫn mang nặng tính giai cấp, ra sức bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, ngay cả trong trường hợp đối lập gay gắt với lợi ích chung của toàn xã hội và trong nhiều trường hợp, tính hình thức vẫn còn khá đậm nét.