1. Mô hình khoa học hệ thống pháp luật hình sự trong Dự thảo Phần chung Bộ luật hình sự tương lai

Từ triển vọng tương ứng theo 05 hướng cơ bản để tiếp tục hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp hệ thống Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành như đã nêu trên, theo quan điểm của tác giả vấn đề khó khăn nhất cần được đặt ra là nhà làm luật phải triển khai sao cho sự thể hiện về kỹ thuật lập pháp đối với các chế định nhỏ phải tương ứng với từng (mỗi) chế định lớn của Phần chung pháp luật hình sự mà chúng phụ thuộc.

Chính vì vậy, sự thể hiện cụ thể trong việc hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp hệ thống Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành trước hết là cần phải tương ứng vói các chế định lớn thuộc Phần chung pháp luật hình sự sẽ được soạn thảo một cách khoa học.

Tuy nhiên, tại thời điểm hiện tại, về mặt kỹ thuật lập pháp mới chỉ có một số quy phạm thuộc bốn chương trong Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành được sắp xếp trong các chương tương ứng với bốn chế định lớn của nó là: 1) Chương II về tội phạm; 2) Chương IV về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự; 3) Chương X về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội và; 4) Chương XI về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội. Còn lại các quy phạm thuộc 05 chế định lớn khác thì hoặc là chưa có chương riêng biệt đề cập (như về đạo luật hình sự hay về trách nhiệm hình sự) hoặc là chưa quy định gọn trong từng chương (như một loạt các biện pháp tha miễn).

 

2. Cấu trúc của mô hình khoa học về hệ thống pháp luật hình sự thực định trong Dự thảo

Lợi ích đầu tiên của việc hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp hình sự trước hết ở chỗ: các quy phạm thuộc Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành cần được quy định lại một cách logic và khoa học sao cho mô hình khoa học của chúng trong tương lai sẽ bao gồm 09 chương tương ứng theo 09 chế định lớn được thừa nhận chung của pháp luật hình sự như sau: Chương I “Về đạo luật hình sự”; Chương II “Về tội phạm”; Chương III “Về những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi”; Chương IV “Về trách nhiệm hình sự”; Chương V “Về các biện pháp cưỡng chế hình sự”; Chương VI “Quyết định hình phạt”; Chương VII “Về các biện pháp tha miễn”; Chương VIII “Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội”; Chương IX “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại do sự liên đới trong việc phạm tội”.

Trên cơ sở này, mô hình khoa học về Dự thảo Phần chung Bộ luật Hình sự tương lai (sau pháp điển hóa lần thứ tư) sẽ có cơ cấu gồm 09 chương (I-IX), 26 mục nhỏ (1-26) với 165 điều (1-165) tương ứng với những vấn đề có liên quan thuộc 09 chế định lớn này của pháp luật hình sự thực định. Chính vì vậy, sẽ là hợp lý khi sau khoản 3 này thì dưới đây tại 06 điểm tiếp theo (4-11) nhằm góp phần nhận thấy rõ ý nghĩa quan trọng về mặt nhận thức khoa học và thực tiễn của việc hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp hình sự và nhất là để hỗ trợ đáng kể cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trong việc áp dụng pháp luật hình sự.

 

3. Những luận giải khi hoàn thiện kỹ thuật lập pháp trong Dự thảo Phần chung Bộ luật hình sự tương lai

Trước khi bàn về những vấn đề học thuật có liên quan đến định hướng tiếp tục hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp hệ thống Phần chung pháp luật hình sự thực định hiện hành của nước ta, về mặt thời gian nghiên cứu chủ đề kỹ thuật lập pháp hình sự thì việc cần phải làm gì để các Bộ luật Hình sự Việt Nam qua các thời kỳ ngày càng được hoàn thiện hơn không phải là mục đích tự thân hay mới chỉ xuất hiện trong vài năm gần đây mà nó luôn có sự liên tục kế tiếp nhau qua các mốc thời điểm thông qua ba Bộ luật Hình sự Việt Nam các năm 1985, 1999 và 2015.

Sau hơn 30 năm bàn về những vấn đề hoàn thiện kỹ thuật lập pháp của hệ thống Phần chung pháp luật hình sự thực định Việt Nam, cho đến nay, sau nhiều năm sửa đổi, bổ sung khoảng hơn 70 điểu khoản có liên quan, thì lần đầu tiên Dự thảo Phần chung Bộ luật Hình sự Việt Nam sắp tới gồm 09 chương (I - IX) tương ứng theo thứ tự 09 chế định của pháp luật hình sự, 26 mục nhỏ với tổng cộng 165 điều.

Tuy nhiên, văn bản đầu tiên của Nhà nước trong quá trình soạn thảo Bộ luật Hình sự năm 2015 chính là các luận điểm tại trang 20 khoản 1 Mục III “Một số đề xuất, kiến nghị” trong Báo cáo “Kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự” tháng 3/2013 của Bộ Tư pháp (tài liệu được gửi cho các thành viên Ban soạn thảo và Tổ biên tập Bộ luật Hình sự sửa đổi) trong cuộc họp lần thứ hai theo Giấy mời số 168/GM-BTP ngày 18/3/2013. Tại văn bản đó lãnh đạo Bộ Tư pháp đã nhấn mạnh: “Nghiên cứu bổ sung Phần chung Bộ luật Hình sự một số khái niệm cơ bản để áp dụng thống nhất như: phạm tội nhiều lần; phạm nhiều tội; tổ chức tội phạm; tội phạm có tổ chức; trách nhiệm hình sự;... để làm cơ sở lý luận áp dụng trong thực tiễn;…

Mặt khác, vì sau gần 03 năm (2018-2020) thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy, đến thời điểm hiện nay vì kỹ thuật lập pháp của các điều khoản có liên quan đến những vấn đề về trách nhiệm hình sự nói chung và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại nói riêng chưa đạt nên các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án nước ta vẫn chưa hề truy cứu được trách nhiệm hình sự đối vối bất kỳ một pháp nhân thương mại nào. Chính vì vậy, mô hình khoa học về hệ thống pháp luật hình sự thực định sau pháp điển hóa lần thứ tư trong Dự thảo Phần chung Bộ luật Hình sự tương lai.

 

4. Chế định lớn về các biện pháp tha miễn

Những vấn đề về kỹ thuật lập pháp đối với các quy phạm thuộc chế định này sẽ tương ứng vối hệ thống các điều khoản tại Chương VII “Về các biện pháp tha miễn” gồm có 42 điều, bắt đầu từ Điều 89 “Khái niệm và hệ thống các biện pháp tha miễn” riêng biệt (không thuộc mục nào) và 41 điều còn lại (Điều 90 - Điều 130) được sắp xếp tương ứng tại 09 mục nhỏ là:

Mục 11 “Thời hiệu trong luật hình sự và không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu” có 03 điều (Điều 90 - Điều 93);

Mục 12 “Miễn trách nhiệm hình sự” có 10 điều (Điều 94 - Điều 103);

Mục 13 “Không thi hành bản án kết tội do hết thòi hiệu” có 03 điều (Điều 104 - Điều 106);

Mục 14 “Miễn hình phạt” có 04 điều (Điều 107 - Điều 110);

Mục 15 “Miễn chấp hành hình phạt” có 07 điều (Điều 111 - Điều 117);

Mục 16 “Án treo và tha tù trưổc thời hạn có điều kiện” có 03 điều (Điều 118 - Điều 120);

Mục 17 có 03 điều (Điều 121 - Điều 123) với hai phương án: Phương án I “Các biện pháp tha miễn liên quan đến việc chấp hành hình phạt” (gồm 03 biện pháp) hoặc Phương án II (nêu tên gọi cụ thể của từng biện pháp): “Giảm mức hình phạt đã (được) tuyên, hoãn chấp hành hình phạt tù có thời hạn và tạm đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù có thời hạn”;

Mục 18 “Án tích” có 05 điều (Điều 124 - Điều 128);

Mục 19 “Đại xá và đặc xá” có 02 điều (Điều 129, Điều 130).

Ví dụ về sự thể hiện cụ thể việc hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp của các quy phạm thuộc chế định nhân đạo này về các biện pháp tha miễn tại Chương VII của Dự thảo với tư cách là chế định rộng lớn nhất của pháp luật hình sự thực định Việt Nam với 13 biện pháp tha miễn là lần đầu tiên trong Dự thảo đã:

- Đưa ra được 12 định nghĩa pháp lý của các khái niệm còn thiếu tương ứng với 12 biện pháp tha miễn mà ở các mức độ khác nhau có trong Bộ luật Hình sự năm 2015 mà Tổ biên tập - Bộ Tư pháp vẫn chưa xây dựng.

- Đã xây dựng thêm nhiều căn cứ để mở rộng các dạng tha miễn mang tính nhân đạo, chẳng hạn như: Không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu (Điều 93); Miễn trách nhiệm hình sự với 12 dạng (trường hợp) của nó (các Điều 94 - 103); Không thi hành bản án kết tội do hết thời hiệu (Điều 106); Miễn hình phạt với 12 dạng (trường hợp) của nó (các Điều 107-110); Miễn chấp hành hình phạt với 17 dạng của nó (các Điều 111-117); Đại xá và đặc xá (các Điều 129 - 130);...

 

5. Chế định lớn về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội

Những vấn đề về kỹ thuật lập pháp đối với các quy phạm thuộc chế định này sẽ tương ứng với hệ thống các điều, khoản tại Chương VIII “Về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội” và sẽ có 19 điều (Điều 131 - Điều 149) được thể hiện trong việc sắp xếp các điểu có cùng bản chất pháp lý tương ứng tại 04 mục nhỏ là:

- Mục 20 “Quy định chung về xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội” có 03 điều (Điều 131 - Điều 133);

- Mục 21 “Biện pháp tư pháp hình sự riêng đối với người chưa thành niên phạm tội” có 06 điều (Điều 134 - Điều 139);

- Mục 22 “Hình phạt riêng đối với người chưa thành niên bị kết án” có 04 điều (Điều 140 - Điều 143);

- Mục 23 “Quyết định hình phạt và các biện pháp tha miễn đối với người chưa thành niên phạm tội hoặc bị kết án” có 06 điều (Điều 144 - Điều 149).

 

6. Chế định lớn về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại có liên đới trong việc phạm tội của cá nhân

Những vấn đề về kỹ thuật lập pháp đối với các quy phạm thuộc chế định này sẽ tương ứng với hệ thống các điều, khoản tương ứng với các quy phạm tại Chương IX “Về trách nhiệm hình sự của pháp nhân có liên đới trong việc phạm tội” của Dự thảo và sẽ có 16 điều (Điều 150 - Điều 165) được thể hiện trong việc sắp xếp các điều có cùng bản chất pháp lý tương ứng tại 03 mục nhỏ là: - Mục 24 “Quy định chung về xử lý hình sự đối với pháp nhân phạm tội” có hai điều (Điều 150, Điều 151);

- Mục 25 “Hình phạt và biện pháp tư pháp hình sự riêng đối với pháp nhân phạm tội” có 07 điều (Điều 152 - Điều 158);

- Mục 26 “Quyết định hình phạt và các biện pháp tha miễn” có 07 điều (Điều 159 - Điều 165).

Nhìn chung, kỹ thuật lập pháp như vậy là nhằm góp phần khắc phục bất cập lớn của các quy phạm về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại có liên đới trong việc phạm tội của cá nhân theo Bộ luật Hình sự năm 2015 là chúng không được ghi nhận tập trung cùng một Chương XI mà lại bị quy định rải rác trong các chương khác nhau của Bộ luật đó. Chẳng hạn như cơ sở của trách nhiệm hình sự thì ở Điều 2 (Chương I), còn điều kiện chịu trách nhiệm hình sự thì lại bị bỏ qua 10 chương khác (với một loạt quy phạm khác) thuộc Phần chung rồi cuối cùng mới được quy định tại Điều 75 (Chương XI). Đặc biệt, ngay nội hàm của điểm a khoản 1 Điều 75 đã cho thấy, chủ thể thay mặt cho pháp nhân thương mại đó chính là người (cá nhân) chứ không phải là pháp nhân khi nhà làm luật sử dụng hai từ “nhân danh”.