Lãi là phần giá trị lớn hơn, thu được do tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ so với giá thành và chỉ phí tiêu thụ sản phẩm.

Lãi là bộ phận giá trị có được do thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Nếu việc tiêu thụ sản phẩm có lãi thì nó là một bộ phận của doanh thu. Giá thành là toàn bộ hao phí tài sản, sức lao động liên quan đến việc tạo ra sản phẩm. Trong hạch toán kinh tế, lãi được chia làm hai loại chủ yếu là lãi kế hoạch và lãi thực tế. Lãi kế hoạch là chỉ tiêu dự kiến lãi thu được trong thời gian xác định. Lãi thực tế là lãi có được sau khi trang trải các chỉ phí thực tế trong quá trình tạo ra sản phẩm.

Dưới chủ nghĩa tư bản, lãi là hình thức chuyển hoá của giá trị thặng dư mà nhà tư bản bóc lột lao động làm thuê. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, trong thành phần kinh tế nhà nước và hợp tác xã, lãi là khoản thu nhập thuần tuý của xã hội, là biểu hiện tích luỹ tiền tệ trong các xí nghiệp và tổ chức kinh tế bên cạnh hình thức thuế. Lãi được tính toán đúng theo các tiêu chuẩn kinh tế, kĩ thuật hợp lí, là một trong những thước đo quan trọng về hiệu quả của sản xuất, kinh doanh, là nguồn quan trọng để thực hiện tái sản xuất mở rộng, nguồn để khuyến khích lợi ích vật chất đối với cá nhân người lao động và tập thể lao động.