Trong thực tiễn, có những eo biển có ý nghĩa rất quan trọng trong hàng hải quốc tế như eo biển Gibranta, eo biển Malăcca, eo biển Quỳnh Châu...

Theo quy định của Công ước luật biển năm 1982, tất cả các tàu thuyền và phương tiện bay được quyền quá cảnh không gây hại mà không gặp bất cứ một cản trở nào qua eo biển quốc tế. Việc thực hiện quyền quá cảnh không thể bị đình chỉ. Tuy nhiên, không phải eo biển quốc tế nào cũng tồn tại quyền quá cảnh không gây hại.

Điều 45 Công ước luật biển năm 1982 cũng quy định rõ việc áp dụng chế độ đi qua không gây hại đối với một số eo biển quốc tế nhất định (ví dụ: Những eo biển nối liền lãnh hải của một quốc gia với một bộ phận của biển cả hay với vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia khác).

1. Định nghĩa về eo biển quốc tế

Eo biển dùng cho hàng hải quốc tế là eo biển giữa một bộ phận của biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế và một bộ phận khác của biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế.

Theo nghĩa thông thường, eo biển là phần biển dài và hẹp nằm ở giữa hai khoảng đất, nối liền hai vùng biển với nhau.1 Eo biển có thể nằm trên những tuyến đường hàng hải quốc tế và có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế. Khác với kênh đào, eo biển có tính chất hoàn toàn tự nhiên nối liền các biển và đại dương, như eo biển Bering nối Thái Bình Dương với Bắc Băng Dương, eo biển Gibraltar nối Địa Trung Hải với Đại Tây Dương, eo biển Malacca nối Biển Đông với Ấn Độ Dương...

Theo nghĩa pháp lý, khái niệm “eo biển quốc tế” được đề cập trong Phán quyết ngày 09/4/1949 của Toà án Công lý quốc tế Vụ eo biển Corfou giữa Anh và Albani. Trong Phán quyết này, eo biển quốc tế được hiểu là eo biển nối liền hai phần của biển cả và phục vụ cho hàng hải quốc tế. Toà đã căn cứ vào hai tiêu chí: Vị trí địa lý (nối liền hai phần của biển cả) và số lượng tàu thuyền của các quốc gia qua lại (phục vụ cho giao thông hàng hải) để xác định tính “quốc tế” của một eo biển quốc tế so với các eo biển thông thường. Khái niệm này được tiếp tục ghì nhận với một chút thay đổi tại khoản 4 Điều 16 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp, theo đó eo biển dùng cho hàng hải quốc tế nối giữa các bộ phận của biển cả hoặc nối giữa một bộ phận của biển cả với vùng lãnh hải của một quốc gia. Trong Công ước luật biển năm 1982, khái niệm eo biển dùng cho hàng hải quốc tế được mở rộng hơn, theo đó eo biển dùng cho hàng hải quốc tế gồm có:

- Eo biển nối giữa một bộ phận của biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế với một bộ phận khác của biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế (Điều 37 Công ước luật biển năm 1982).

- Eo biển nối liền lãnh hải của một quốc gia với một bộ phận của biển cả hay vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia khác (Điều 45 Công ước luật biển năm 1982).

>> Xem thêm:  Tổ chức quốc tế là gì ? Đặc điểm, phân loại tổ chức quốc tế

Với các quy định trên, Công ước luật biển năm 1982cũng dựa vào vị trí địa lý và mục đích sử dụng phục vụ cho giao thông hàng hải quốc tế để xác định ẹo biển quốc tế. Quy định tại Phan III (từ Điều 34 đến Điều 45) của Công ước luật biển năm 1982 sẽ được áp dụng đổi với các eo biển này. Thuật ngữ “biển cả” trong các quy định tại Phần III Công ước luật biển năm 1982 được hiểu theo nghĩa pháp lý (biển quốc tế - vùng biển nằm ngoài giới hạn vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia) chứ không theo nghĩa thông thường.

2. Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

Tại các eo biển quốc tế, tàu thuyền và phương tiện bay của các quốc gia được hưởng quyền quá cảnh, "Quá cảnh" có nghĩa là việc thực hiên quyền tự do hàng hải và tự do hàng không với mục đích là đi qua liên tục và nhanh chóng qua eo biển giữa một bộ phận của biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế và một bộ phận khác của biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế. Đòi hỏi quá cảnh liên tục và nhanh chóng không ngăn cấm việc đi qua eo biển để đến lãnh thổ của một quốc gia ven eo biển, để rời khỏi hoặc lại đến lãnh thổ đó, theo các điều kiện cho phép đến lẳnh thổ của quốc gia đó. Quyền quá cảnh này không được áp dụng trong ba trường hợp, đối với:

- Các eo biển mà việc đi qua đã được quy định toàn bộ hay từng phần trong các công ước quốc tế đặc biệt nhằm vào các eo biển này đã có từ lâu đời và vẫn đang còn có hiệu lực. Đó là trường hợp của các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, Đan Mạch, Magelan...

- Các eo biển có thể vượt qua nó bằng một con đường ở biển cả hay một con đường qua một vùng đặc quyền kinh tế cũng thuận tiện như thể về phương diện hàng hải và về các đặc điểm thuỷ văn. Đó là trường hợp của các eo biển Môzămbic, eo biển Berin...

- Các eo biển được tạo thành bởi lãnh thổ đất liền của một quốc gia và một đảo cũng thuộc quốc gia này và tồn tại ở phía ngoài đảo này một đường ở biển cả hay một con đường qua vùng đặc quyền kinh tế cũng thuận tiên như thế về phương diện hàng hải và về các đặc điểm thuỷ văn hay các eo biển nối liền lãnh hải của một quốc gia với một bộ phận của biển cả hay với một vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia khác. Đối với các eo biển loại này người ta áp dụng chế độ quyền qua lại không gây hại, ví dụ như các eo biển Corfu, Messinẹ...

Quyền quá cảnh này được áp dụng cho cả tàu thuyền và phương tiện bay. Các phương tiện bay được hưởng quyền tự do cao hơn so với các tàu thuyền vì các phương tiên này thực hiện quyền tự do bay không theo các hành lang như trường hợp tàu thuyền phải tôn trọng các tuyến đường và các cách phân chia luồng giao thông do các quốc gia ven eo biển thiết lập phù hợp với các quy định quốc tế đã được chấp nhận chung. Nghĩa vụ cùa các phương tiện bay khi thực hiện quá cảnh là tôn trọng các quy định về hàng không do Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế đề ra và thường xuyên theo dõi tần số điện đài mà cơ quan có thẩm quyền được quốc tế chỉ định làm nhiệm vụ kiểm soát giao thông hàng không phân bổ cho hoặc tần số quốc tế về nguy cấp cho tàu ngầm được phép thực hiện quyền quá cảnh ở trạng thái chìm.

Trong khi thực hiện quyền quá cảnh eo biển quốc tế, các tàu thuyền và phương tiện bay có nghĩa vụ:

- Không được có những hoạt động nào khác ngoài những hoạt động cần cho sự quá cảnh Hên tục và nhanh chóng.

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

- Tuân thủ các quy định, thủ tục và tập quán quốc tế đã được chấp nhận chung về mặt an toàn hàng hải, ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển.

Các quốc gia ven eo biển có quyền:

- Ấn định các tuyến đường và quy định các cách phân chia luồng giao thông trong các eo biển quốc tế khi có nhu cầu bảo đảm an toàn cho tàu thuyền đi qua eo biển và khi hoàn cảnh đòi hỏi với điều kiện phải có thoả thuận của tổ chức quốc tế có thẩm quyền.

- Có thể quy định các luật và các văn bản liên quan đến việc quá cảnh eo biển. Quyền này chỉ giới hạn trong 4 lĩnh vực, an toàn hàng hải; ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển; cấm đánh bắt hải sản; xếp dỡ hàng hoá, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu. Các luật và quy định này không được dẫn đến bất kỳ một sự phân biệt đối xử nào về mặt pháp lý hay về mặt thực tế giữa các tàu thuyền nước ngoài.

Các quốc gia ven eo biển có nghĩa vụ không được gây trở ngại cho việc quá cảnh và phải thông báo đầy đủ về mọi nguy hiểm đối với hàng hải trong eo biển hoặc đối với việc bay trên eo biển mà quốc gia này nắm được. Việc thực hiện quyền quá cảnh không thể bị đình chỉ.

Hiện nay, trong thực tiễn có 52 eo biển quốc tế có chiều rộng 6 hải lý, 153 eo biển có chiều rộng từ 6 hải lý đến 24 hải lý và 60 eo biển có chiều rộng hơn 24 hải lý. Bằng việc xác định chiều rộng lãnh hải 12 hải lý tính từ đường cơ sở, toàn bộ hoặc một phần các eo biển này sẽ được quy thuộc là các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển (nội thuỷ, lãnh hải). Tuy nhiên, để cân bằng giữa lợi ích của quốc gia ven biển và lợi ích của các quốc gia khác trong việc sử dụng eo biển phục vụ cho giao thông hàng hải quốc tế, nguyên tắc tự do biển cả đã có tác động và ảnh hưởng đến chế độ pháp lý của các eo biển quốc tế. Dựa vào Công ước luật biển năm 1982 có thể chia eo biển quốc tế thành các nhóm sau:

- Eo biển quốc tế áp dụng chế độ quá cảnh (Mục 2 Phần III Công ước luật biển năm 1982);

- Eo biển quốc tế áp dụng chế độ đi qua không gây hại (Mục 3 Phần III Công ước luật biển năm 1982);

- Eo biển quốc tế áp dụng các chế độ pháp lý khác.

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

2.1 Eo biển quốc tế áp dụng chế độ quá cảnh

Theo Điều 37 và khoản 2 Điều 38 Công ước luật biển năm 1982, chế độ quá cảnh được áp dụng đối với các eo biển nối giữa một bộ phận của biển cả hoặc vùng đặc quyền kinh tế với một bộ phận khác của biển cả hoặc vùng đặc quyền kinh tế.

Eo biển theo quy định tại Điều 37 và khoản 2 Điều 38
Công ước luật biển năm 1982

Với chế độ quá cảnh, tất cả tàu thuyền và phương tiện bay đều được hưởng quyền đi qua và bay qua eo biển với điều kiện phải liên tục, nhanh chóng. Yêu cầu quá cảnh liên tục và nhanh chóng không ngăn cản việc đi qua eo biển để đến lãnh thổ của một quốc gia ven biển, hoặc để rời khỏi lãnh thổ đó, theo các điều kiện cho phép của quốc gia đó. Trong thực tiễn, một số eo biển quốc tế áp dụng chế độ quá cảnh như eo biển Dover, eo biển Malacca...

Trong khi thực hiện quyền quá cảnh qua eo biển quốc tế, các tàu thuyền và phương tiện bay có nghĩa vụ:

- Không được dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực để chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của các quốc gia ven eo biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc pháp luật quốc tế được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc.

- Không được có hoạt động nào khác ngoài những hoạt động cần thiết cho sự quá cảnh liên tục và nhanh chóng, theo phương thức đi bình thường, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trừ trường hợp nguy cấp.

- Tàu thuyền phải tuân thủ các quy định thủ tục và tập quán quốc tế đã được thừa nhận chung về an toàn hàng hải, ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển.

- Phương tiện bay phải tôn trọng các quy định về an toàn bay của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO), phải thường xuyên liên lạc chặt chẽ và liên tục với cơ quan quản lý Vùng Thông báo bay (FIR) do ICAO chỉ định.

Công ước luật biển năm 1982 cũng quy định về quyền và nghĩa vu của quốc gia ven biển:

- Ấn định các tuyến đường hàng hải và quy định cách phân chia luồng giao thông trong các eo biển quốc tế khi nhu cầu và hoàn cảnh thực tế đòi hỏi với điều kiện phải có thoả thuận với tổ chức quốc tế có thẩm quyền. Các quốc gia ven eo biển ghi rõ ràng lên các hải đồ tất cả các tuyến đường hay tất cả các cách phân chia luồng giao thông mà mình đã thiết lập và công bố các hải đồ này theo đúng thủ tục.

>> Xem thêm:  Quần đảo là gì ? Quốc gia quần đảo là gì ? Vùng nước quần đảo được hiểu thế nào ?

- Ban hành các văn bản pháp lý liên quan đến quyền quá cảnh qua eo biển trong các lĩnh vực: Đảm bảo an toàn và an ninh hàng hải; ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển; nghiêm cấm đánh bắt hải sản; xếp dỡ hàng hoá, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền.

- Không được gây cản trở cho việc quá cảnh, đồng thời phải thông báo đầy đủ về mọi mối nguy hiểm đối với hàng hải trong eo biển hoặc đối với lưu thông hàng không trên eo biển mà họ đã xác định được. Việc thực hiện quyền quá cảnh không thể bị đình chỉ.

2.2 Eo biển quốc tế áp dụng chế độ đì qua không gây hại

Chế độ đi qua không gây hại sẽ được áp dụng đối với eo biển quốc tế trong hai trường hợp:

- Eo biển được tạo thành bởi lãnh thổ đất liền và một đảo thuộc chủ quyền của cùng một quốc gia, đồng thời ở phía ngoài của đảo này tồn tại một con đường hàng hải ở biển cả hoặc vùng đặc quyền kinh tế cũng thuận lợi như vậy về phương diện hàng hải và các đặc điểm thuỷ văn (khoản 1 Điều 38 và điểm a khoản 1 Điều 45 Công ước luật biển năm 1982).

- Nối liền lãnh hải của một quốc gia với một bộ phận của biển cả hay với một vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia khác (điểm b khoản 1 Điềú 45 Công ước luật biển năm 1982).

Eo biển theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 45 Công ước luật biển năm 1982

Chế độ đi qua không gây hại ở eo biển quốc tế được áp dụng tương tự chế độ đi qua không gây hại ở lãnh hải, chỉ có một sự khác biệt là chế độ đi qua không gây hại ở eo biển quốc tế không thể bị đình chỉ để đảm bảo cho giao thông hàng hải quốc tế (khoản 2 Điều 45 Công ước luật biển năm 1982). Eo biển Corfou, eo biển Messina... là những eo biển áp dụng chế độ này.

Chế độ quá cảnh và chế độ đi qua không gây hại là hai chế độ pháp lý chủ yếu mà Công ước luật biển năm 1982 áp dụng cho các eo biển. Tuy nhiên, theo Điều 35 Công ước luật biển năm 1982 , chế độ quá cảnh và chế độ đi qua không gây hại ở eo biển quốc tế không được ảnh hưởng tới.

- Chế độ pháp lý của vùng nội thủy thuộc một eo biển quốc tế, trừ khi việc vạch ra một tuyến đường cơ sở thẳng theo đúng với phương pháp nói ở Điều 7 Công ước luật biển năm 1982đã gộp vào trong nội thủy những vùng nước trước đây không được coi là nội thủy.

>> Xem thêm:  Vùng nước quần đảo là gì ? Chế độ pháp lý vùng nước quần đảo

- Chế độ pháp lý của các vùng nước nằm ngoài lãnh hải của các quốc gia ven eo biển, dù chúng thuộc vùng đặc quyền kinh tế hay thuộc biển cả.

2.3 Eo biển quốc tế áp dụng các chế độ pháp lý khác

Ngoài hai chế độ pháp lý chủ yếu là quá cảnh và đi qua không gây hại, Công ước luật biển năm 1982 còn đề cập đến khả năng áp dụng các chế độ pháp lý khác dành cho các eo biển quốc tế.

+ Eo biển áp dụng chế độ tự do hàng hải, tự do hàng không:

Điều 36 Công ước luật biển năm 1982 quy định chế độ quá cảnh và chế độ đi qua không gây hại ở eo biển quốc tế không được áp dụng đối với các eo biển mà có thể vượt qua các eo biển này bằng một con đường ở biển cả hay ở vùng đặc quyền kinh tế cũng thuận tiện như thế về phương diện hàng hải và các đặc điểm thuỷ văn. Tại các eo biển này áp dụng quyền tự do hàng hải và tự do hàng không (như eo biển Mozambique, eo biển Bering...). Trong trường hợp không tồn tại tuyến đường thuận tiện đó, tàu thuyền và phương tiện bay vẫn được hưởng quyền quá cảnh qua eo biển. Eo biển theo quy định của Điều 36 Công ước luật biển năm 1982.

+ Eo biển áp dụng chế độ đặc thù quỵ định trong điều ước quắc tế:

Theo điểm c Điều 35 Công ước luật biển năm 1982, eo biển mà việc đi qua đã được quy định toàn bộ hay từng phần trong các điều ước quốc tế đặc biệt, đã có từ lâu đời và vẫn đang có hiệu lực thì chế độ pháp lý được áp dụng theo quy định của chính các điều ước quốc tế đó. Một số eo biển thuộc nhóm này như eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, eo biển Đan Mạch, eo biển Magellan...

- Eo biển Thổ Nhĩ Kỳ: Eo biển Thổ Nhĩ Kỳ bao gồm tập hợp hai eo biển Dardanelles và Bosphorus, nối Biển Aegean với Biển Marmara và Biển Đen. Chế độ pháp lý của eo biển Thổ Nhĩ Kỳ được điều chỉnh bởi Công ước Montreux năm 1936, theo đó các tàu chiến, tàu thương mại và phương tiện bay dân dụng đều được hưởng quyền tự do qua lại.

- Eo biển Đan Mạch: Eo biển Đan Mạch gồm tập hợp ba eo biển Little Belt, Great Belt và Oresund Sound nối Biển Baltic với Biển Bắc. Theo Hiệp ước Copenhagen ngày 14 tháng 3 năm 1857 giữa Đan Mạch và các quốc gia châu Âu, tất cả tàu thuyền đều được đi qua eo biển Đan Mạch mà không gặp bất kì sự trở ngại hoặc bắt giữ nào.

- Eo biển Magellan: Eo biển Magellan nàm giữa Argentina và Chile, nối liền Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Theo Điều 5 Hiệp ước năm 1881 giữa Argentina và Chile, eo biển Magellan có chế độ trung lập và tàu thuyền treo cờ của mọi quốc gia đều được tự do qua lại.[1] Chế độ này cũng tiếp tục được duy trì theo Điều 10 Hiệp ước Hoà bình và hữu nghị giữa Argentian và Chile năm 1984.[2]

>> Xem thêm:  Vùng biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý tại khu vực biển quốc tế

Việc hình thành nhiều chế độ pháp lý khác nhau áp dụng đối với các eo biển quốc tế phản ánh sự đa dạng về vị trí cũng như về ý nghĩa và tầm quan họng của eo biển không chỉ đối với các quốc gia có liên quan trực tiếp mà còn đối với tất cả các quốc gia khác, về cơ bản, cũng như vùng nước quần đảo, chế độ pháp lý của eo biển quốc tế luôn là sự dung hoà lợi ích giữa các quốc gia, vừa đảm bảo chủ quyền của quốc gia ven eo biển đối với các vùng nội thuỷ, lãnh hải, vừa đảm bảo lợi ích của các quốc gia khác trong việc khai thác, sử dụng hiệu quả eo biển cho mục đích vận chuyển hàng hải, hàng không quốc tế.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Thềm lục địa là gì ? Quy định về thềm lục địa địa chất và thềm lục địa pháp lý