Lãi suất ngân hàng là tỷ lệ giữa mức lãi với tiền vốn gửi vào hoặc cho vay trong một thời kì hay tỉ lệ giữa chi phí phải trả trên một lượng tiền nhất định để được sử dụng lượng tiền ấy trong khoảng thời gian do ngân hàng quy định hoặc thoả thuận phù hợp với hệ thống ngân hàng và với những khách hàng trao đổi nghiệp vụ với ngân hàng.

Lãi suất ngân hàng chính là giá của quyền sử dụng một khoản tiền trong một thời hạn nhất định mà người sử dụng khoản tiền ấy phải trả cho người sở hữu khoản tiền. Lãi suất ngân hàng thường được thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm, phần nghìn hoặc phần vạn trên số tiền gửi hoặc cho vay trong một thời hạn nhất định (năm, tháng, ngày). Lãi suất tiền gửi và cho vay có thể cao thấp khác nhau tùy theo thời gian gửi hoặc vay dài hay ngắn, tùy loại ngân hàng, phương thức trả trước hay trả sau và tùy vào từng thời kì.

Lãi suất ngân hàng (bao gồm ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác) được phân thành nhiều loại khác nhau dựa trên cơ sở của các tiêu chí phân loại khác nhau.

Theo nguồn sử dụng, lãi suất ngân hàng được phân thành lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Lãi suất huy động là lãi suất mà các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác đưa ra khi huy động tiền gửi và là loại lãi suất quy định tỉ lệ lãi phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng. Lãi suất cho vay là lãi suất mà ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác đưa ra để thu của người vay tiền. Lãi suất cho vay ở Việt Nam chủ yếu có ba loại là lãi suất cho vay của ngân hàng nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, lãi suất của các tổ chức tín dụng với nhau và lãi suất của tổ chức tín dụng với khách hàng.

Theo giá trị thực, lãi suất ngân hàng được chia thành hai loại là lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực. Lãi suất danh nghĩa là loại lãi suất được xác định một kì hạn gửi hoặc vay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước. Lãi suất thực là loại lãi suất xác định giá trị thực của khoản lãi được trả hoặc thu được sau khi đã trừ đi tỈ lệ lạm phát. Thông thường, trong nền kinh tế luôn có lạm phát nên lãi suất danh nghĩa bao giờ cũng cao hơn lãi suất thực.

Theo thời gian, lãi suất ngân hàng được chia thành ba loại là lãi suất huy động cho vay ngắn hạn, lãi suất huy động cho vay trung hạn và lãi suất huy động cho vay dài hạn.

Lãi suất ngân hàng cũng có thể được chia thành lãi suất đơn và lãi suất kép. Lãi suất đơn là tỉ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay ban đầu để tính lãi thời hạn kế tiếp. Lãi suất kép là tỉ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay, số tiền vay này tăng lên do có gộp lãi qua từng thời kì cho vay.

Theo phương thức trả, lãi suất ngân hàng được chia thành lãi suất trả trước và lãi suất trả sau. Lãi suất trả trước là lãi suất được tính trước và tính vào phần tiền gửi. Lãi suất trả sau là lãi suất mà sau kì hạn gửi tiền người gửi mới được nhận.

Theo chức năng của các ngân hàng, lãi suất ngân hàng được chia thành lãi suất ngân hàng nhà nước và lãi suất của các tổ chức tín dụng.

Lãi suất ngân hàng nhà nước là lãi suất do ngân hàng nhà nước quy định trong hoạt động ngân hàng. Lãi suất ngân hàng nhà nước gồm có lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu. Lãi suất cơ bản là lãi suất do ngân hàng nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất do ngân hàng nhà nước áp dụng khi tái cấp vốn. Lãi suất tái chiết khấu là hình thức lãi suất tái cấp vốn được áp dụng khi ngân hàng nhà nước tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn cho các tổ chức tín dụng.

Lãi suất của các tổ chức tín dụng là lãi suất mà các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng trong giao dịch với khách hàng. Lãi suất của các tổ chức tín dụng bao gồm các loại như lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất thoả thuận, lãi suất liên ngân hàng. Lãi suất thoả thuận là mức lãi suất do các tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng trong hoạt động tín dụng thương mại. Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất thoả thuận giữa các tổ chức tín dụng với nhau trong việc vay các khoản vốn ngắn hạn.