Khi có lãn công, đại diện Ban chấp hành Công đoàn cần gặp tập thể lao động (hoặc đại diện) để tìm hiểu tình hình, vận động người lao động trở lại làm việc. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tập thể người lao động không có quyền lãn công.

1. Cách hiểu thế nào là đình công

Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo.

2. Trường hợp người lao động có quyền đình công

Tổ chức đại diện người lao động là bên tranh chấp lao động tập thể về lợi ích có quyền tiến hành thủ tục quy định để đình công trong trường hợp sau đây:
1. Hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải quy định mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải;
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quy định , hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.
2. Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc thành lập nhưng không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc người sử dụng lao động là bên tranh chấp không thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động.

3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích

Tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:
a) Hòa giải viên lao động;
b) Hội đồng trọng tài lao động.
Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết hoặc tiến hành thủ tục đình công.

4. Quy trình, thủ tục về đình công:

- Các bước để tiến hành đình công thực hiện như sau:

+Lấy ý kiến về đình công theo quy định.

Trước khi tiến hành đình công, tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công quy định tại Điều 198 của Bộ luật này có trách nhiệm lấy ý kiến của toàn thể người lao động hoặc thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động tham gia thương lượng.

Nội dung lấy ý kiến bao gồm:a) Đồng ý hay không đồng ý đình công;b) Phương án của tổ chức đại diện người lao động về nội dung quy định.

Việc lấy ý kiến được thực hiện trực tiếp bằng hình thức lấy phiếu hoặc chữ ký hoặc hình thức khác.

Thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành lấy ý kiến về đình công do tổ chức đại diện người lao động quyết định và phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 01 ngày. Việc lấy ý kiến không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động không được gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người lao động tiến hành lấy ý kiến về đình công.

+ Ra quyết định đình công và thông báo đình công theo quy định:

Khi có trên 50% số người được lấy ý kiến đồng ý với nội dung lấy ý kiến đình công theo quy định thì tổ chức đại diện người lao động ra quyết định đình công bằng văn bản.

Quyết định đình công phải có các nội dung sau đây:a) Kết quả lấy ý kiến đình công;b) Thời điểm bắt đầu đình công, địa điểm đình công;c) Phạm vi tiến hành đình công;d) Yêu cầu của người lao động; đ) Họ tên, địa chỉ liên hệ của người đại diện cho tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công.

Ít nhất là 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu đình công, tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công phải gửi văn bản về việc quyết định đình công cho người sử dụng lao động, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Đến thời điểm bắt đầu đình công, nếu người sử dụng lao động vẫn không chấp nhận giải quyết yêu cầu của người lao động thì tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công.

+Tiến hành đình công.

Tiếp tục thỏa thuận để giải quyết nội dung tranh chấp lao động tập thể hoặc cùng đề nghị hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động tiến hành hòa giải, giải quyết tranh chấp lao động.

Tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này có quyền sau đây:

a) Rút quyết định đình công nếu chưa đình công hoặc chấm dứt đình công nếu đang đình công;

b) Yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là hợp pháp.

Người sử dụng lao động có quyền sau đây:

a) Chấp nhận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu và thông báo bằng văn bản cho tổ chức đại diện người lao động đang tổ chức và lãnh đạo đình công;

b) Đóng cửa tạm thời nơi làm việc trong thời gian đình công do không đủ điều kiện để duy trì hoạt động bình thường hoặc để bảo vệ tài sản;

c) Yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là bất hợp pháp.

5. Các hành vi bị nghiêm cấm trước, trong và sau khi đình công

1. Cản trở việc thực hiện quyền đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; cản trở người lao động không tham gia đình công đi làm việc.
2. Dùng bạo lực; hủy hoại máy, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động.
3. Xâm phạm trật tự, an toàn công cộng.
4. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công.
5. Trù dập, trả thù người lao động tham gia đình công, người lãnh đạo đình công.
6. Lợi dụng đình công để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

>> Xem thêm:  Thủ tục xem xét tính hợp pháp của một cuộc đình công ? Quy định pháp luật về đình công

6. Báo cáo về hoạt động đình công tại Việt Nam

Từ năm 1995 đến 31/12/2016 cả nước đã xảy ra gần 6.000 cuộc đình công, 100% số cuộc đình công xảy ra đều không đúng trình tự quy định của pháp luật, 70% số cuộc đình công xảy ra ở những doanh nghiệp có tổ chức công đoàn.

Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2012 xảy ra trên 3.800 cuộc, trong đó số cuộc đình công xảy ra ở doanh nghiệp FDI chiếm 78% và Doanh nghiệp dân doanh chiếm 21,7%. Giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017 đã xảy ra gần 1.300 cuộc đình công, trong đó trong đó số cuộc đình công xảy ra ở doanh nghiệp FDI chiếm 72,5% và Doanh nghiệp dân doanh chiếm 27,4%. Từ năm 2013 đến nay, số cuộc đình công có xu hướng giảm dần, tính chất, mức độ các cuộc đình công cũng đã có những thay đổi so với những năm 2012 trở về trước; tỷ lệ số cuộc đình công xảy ra trong các doanh nghiệp FDI giảm từ 78% xuống còn 72,5%, ngược lại tỷ trọng số cuộc đình công xảy ra trong các doanh nghiệp dân doanh tăng từ 21,7% lên 27,4%.

Đối với các địa phương có nhiều cuộc đình công xảy ra trong những năm vừa qua như Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh đang có xu hướng giảm khá nhanh nhất là từ năm 2013 trở lại đây, trong khi đó lại phát sinh đình công ở một số tỉnh khác như Thừa Thiên Huế, An Giang, Bình Định.

Nhìn một cách tổng thể thì các vụ tranh chấp lao động và đình công xuất phát chủ yếu từ quyền và lợi ích của người lao động chưa được bảo đảm. Các chế độ, quyền lợi của người lao động được thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc quy định của người sử dụng lao động, chưa xuất phát từ quá trình thương lương, thỏa thuận, nhất là tiền lương trả chưa tương xứng với thành quả lao động của người lao động.

Việc giải quyết các vụ đình công trong thời gian vừa qua chủ yếu bằng sự can thiệp của tổ chức liên ngành ở địa phương thông qua cơ chế hành chính và phần lớn các kiến nghị của người lao động được giải quyết. Từ đó đã dẫn đến một cách hiểu của người lao động cứ đình công là được, không cần thiết phải qua hòa giải và trọng tài, cũng không nhất thiết phải qua tổ chức đại diện của mình. Chính vì thế đã làm mất đi vai trò của cơ chế thương lượng và cơ chế hòa giải, làm cản trở sự vận động của quan hệ lao động theo cơ chế thị trường.

7.Từ tình hình trên có thể rút ra một số nhận định sau:

- Tỷ trọng các cuộc đình công xảy ra ở các doanh nghiệp FDI giảm dần là do các doanh nghiệp FDI trong những năm qua đã rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc phòng ngừa các cuộc đình công, như chủ động xem xét điều chỉnh những bất hợp lý về các chính sách, chế độ, quyền lợi đối với người lao động; chủ động đối thoại để giải quyết kịp thời các kiến nghị từ phía người lao động; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với tổ chức công đoàn, tham vấn ý kiến từ phía Ban chấp hành công đoàn về các chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động. Mặt khác cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở các địa phương cũng đã tập trung vào các doanh nghiệp FDI để tăng cường kiểm tra, thanh tra chấn chỉnh kịp thời việc vi phạm pháp luật lao động của các doanh nghiệp.

- Tỷ trọng các cuộc đình công ở các doanh nghiệp dân doanh tăng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp dân doanh ở những tỉnh trong thời gian gần đây mới phát sinh đình công, phần lớn là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, sản xuất gia công hàng xuất khẩu, sức cạnh tranh kém, chế độ quyền lợi của người lao động không được bảo đảm, tăng ca, làm thêm giờ vượt quá quy định, chưa có tổ chức công đoàn nên thường xảy ra đình công.

- Các tỉnh có nhiều cuộc đình công xảy ra trong những năm vừa qua đang có xu hướng giảm dần, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Hải Phòng đã triển khai nhiều giải pháp để tăng cường quản lý nhà nước, hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện tốt pháp luật lao động, tăng cường đối thoại, thương lượng để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Một số địa phương đã xây dựng và triển khai Đề án phát triển quan hệ lao động nhằm thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Điểm mới về giải quyết tranh chấp lao động áp dụng từ năm 2021

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

Câu hỏi thường gặp về lãn công, đình công ?

Câu hỏi: Trường hợp cấm đóng cửa tạm thời nơi làm việc

Trả lời:

1. Trước 12 giờ so với thời điểm bắt đầu đình công ghi trong quyết định đình công.

2. Sau khi người lao động ngừng đình công.

Câu hỏi: Thông báo quyết định đóng cửa tạm thời nơi làm việc

Trả lời:

Thông báo quyết định đóng cửa tạm thời nơi làm việc cho các cơ quan, tổ chức sau đây:

1. Tổ chức đại diện người lao động đang tổ chức và lãnh đạo đình công;

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nơi làm việc dự kiến đóng cửa;

3. Ủy ban nhân dân cấp huyện có nơi làm việc dự kiến đóng cửa.

Câu hỏi: Tiền lương và các quyền lợi hợp pháp khác của người lao động trong thời gian đình công

Trả lời:

1. Người lao động không tham gia đình công nhưng phải ngừng việc vì lý do đình công thì được trả lương ngừng việc theo quy định tại khoản 2 Điều 99 của Bộ luật này và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật về lao động.

2. Người lao động tham gia đình công không được trả lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.