1. Vai trò của kết bài trong bài văn nghị luận văn học

Kết bài là phần khép lại toàn bộ mạch lập luận của bài văn nghị luận văn học. Nếu mở bài có nhiệm vụ nêu vấn đề, thân bài triển khai các luận điểm và dẫn chứng, thì kết bài là nơi người viết tổng hợp, đánh giá và chốt lại giá trị của tác phẩm cũng như hướng cảm nhận của người đọc. Một bài văn có thân bài tốt nhưng kết bài sơ sài thường tạo cảm giác hụt, thiếu độ trọn vẹn và làm giảm sức thuyết phục chung.

Về mặt tư duy, kết bài giúp hoàn tất chu trình phân tích bằng thao tác tổng hợp. Đây là lúc học sinh không lặp lại từng ý đã viết mà nâng các ý ấy lên thành nhận định khái quát hơn về nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa của tác phẩm. Về mặt cảm xúc, kết bài còn là “âm vang cuối” của bài viết. Một kết bài hay có thể để lại dư âm đẹp, giúp người đọc nhớ lâu hơn về tác giả, tác phẩm và thông điệp nhân văn được gửi gắm.

Trong bài thi, kết bài còn có giá trị kỹ thuật rất rõ. Nó giúp bài văn đủ ba phần chuẩn, tạo cảm giác mạch lạc, chỉn chu và thể hiện người viết có ý thức tổ chức bài làm. Vì vậy, dù ngắn, kết bài không phải phần có thể viết qua loa, mà là mắt xích quan trọng quyết định độ hoàn chỉnh và chiều sâu của bài nghị luận văn học.

 

2. Phân loại các dạng kết bài nghị luận văn học phổ biến

Kết bài nghị luận văn học thường được chia thành hai dạng lớn là kết bài trực tiếp và kết bài gián tiếp. Mỗi dạng có đặc điểm riêng, phù hợp với từng đối tượng học sinh và từng yêu cầu đề bài.

Kết bài trực tiếp là cách kết luận đi thẳng vào việc khẳng định lại vấn đề nghị luận. Ở dạng này, người viết thường nhắc lại ngắn gọn giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm và nêu nhận xét chung về tài năng của tác giả. Ưu điểm của kết bài trực tiếp là rõ ràng, dễ viết, an toàn và ít lạc đề. Đây là lựa chọn phù hợp khi học sinh cần bảo đảm cấu trúc chắc chắn hoặc khi thời gian làm bài không còn nhiều.

Kết bài gián tiếp là cách kết luận mở rộng hơn, thường dùng một nhận định văn học, một câu thơ, một liên tưởng, một suy ngẫm hoặc một liên hệ đời sống để dẫn đến ý tổng kết. Dạng này mềm mại hơn, giàu cảm xúc hơn và dễ tạo dấu ấn cá nhân nếu viết tốt. Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi học sinh có vốn diễn đạt khá và biết kiểm soát dung lượng để tránh lan man.

Trong thực tế, kết bài gián tiếp có thể chia nhỏ thành nhiều kiểu như kết bài tóm lược, kết bài phát triển, kết bài liên hệ, kết bài vận dụng và kết bài tổng hợp. Kết bài tóm lược nhấn mạnh việc khái quát lại vấn đề. Kết bài phát triển mở rộng sang ý nghĩa thời đại, giá trị lâu bền của tác phẩm. Kết bài liên hệ hoặc vận dụng thường hướng tới bài học nhận thức, cảm xúc cá nhân hoặc giá trị đối với đời sống hôm nay. Kết bài tổng hợp là kiểu linh hoạt nhất, kết hợp cả đánh giá nội dung, nghệ thuật và một câu nâng cao dư âm.

 

3. Hướng dẫn cách viết kết bài nghị luận văn học hay và ấn tượng

Muốn viết kết bài hay, trước hết học sinh cần hiểu rằng kết bài không phải là phần viết lại mở bài bằng cách đổi vài chữ. Kết bài phải có sự hô ứng với mở bài nhưng ở mức độ cao hơn, khái quát hơn. Từ những phân tích cụ thể ở thân bài, người viết cần đi đến một nhận xét có tính kết luận, làm nổi bật giá trị của tác phẩm.

Một cách viết hiệu quả là triển khai theo ba bước. Bước thứ nhất là dùng một tín hiệu chuyển ý như “tóm lại”, “có thể khẳng định”, “khép lại trang thơ”, “nhìn một cách tổng thể”. Những cụm từ này giúp báo hiệu rõ cho người đọc rằng bài viết đang bước vào phần kết luận. Bước thứ hai là khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Nội dung cần nhắc đến vấn đề trung tâm của đề bài như tư tưởng nhân đạo, tình yêu quê hương, số phận con người, vẻ đẹp tâm hồn nhân vật. Nghệ thuật cần nêu ngắn gọn nét nổi bật như hình ảnh thơ giàu sức gợi, ngôn ngữ tinh tế, tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật xây dựng nhân vật sắc sảo. Bước thứ ba là nâng ý bằng một nhận định về vị trí của tác phẩm, phong cách của tác giả hoặc dư âm mà tác phẩm để lại.

Để kết bài có ấn tượng, câu văn cần gọn nhưng có sức ngân. Không nên cố viết quá cầu kỳ khiến ý mờ đi. Thay vào đó, hãy chọn một hình ảnh đẹp, một nhận xét súc tích hoặc một liên hệ hợp lý. Chẳng hạn, với thơ có thể nhấn vào âm vang cảm xúc và vẻ đẹp ngôn từ. Với truyện ngắn có thể nhấn vào chiều sâu hiện thực và giá trị nhân văn. Nếu học sinh có vốn lý luận văn học, có thể lồng ghép một nhận định quen thuộc để tăng độ sâu, nhưng phải dùng tự nhiên, không gượng ép.

Điều quan trọng nhất là kết bài phải đúng với đề và đúng với thân bài. Một kết bài hay không nằm ở việc dùng lời hoa mỹ, mà ở chỗ nó khép lại được bài viết một cách thuyết phục, có chiều sâu và để lại cảm giác trọn vẹn.

 

4. Tổng hợp các mẫu kết bài chung cho tác phẩm thơ và truyện ngắn

Đối với tác phẩm thơ, có thể vận dụng mẫu kết bài theo hướng nhấn mạnh cảm xúc và giá trị thẩm mỹ như sau: Khép lại bài thơ, người đọc vẫn còn rung động trước vẻ đẹp của hình ảnh, ngôn từ và tình cảm mà tác giả gửi gắm. Bằng giọng thơ giàu cảm xúc cùng những sáng tạo nghệ thuật tinh tế, tác phẩm không chỉ làm nổi bật vấn đề nghị luận mà còn khẳng định tài năng và phong cách riêng của nhà thơ. Chính điều đó đã giúp bài thơ có sức sống bền lâu trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ.

Một mẫu khác dành cho thơ theo hướng khái quát giá trị tư tưởng là: Có thể khẳng định, tác phẩm là kết tinh đẹp đẽ giữa cảm xúc chân thành và nghệ thuật biểu đạt đặc sắc. Qua đó, nhà thơ không chỉ bộc lộ cái tôi trữ tình sâu sắc mà còn gửi đến người đọc một thông điệp nhân văn có ý nghĩa lâu bền. Dù thời gian trôi qua, những vần thơ ấy vẫn giữ nguyên khả năng lay động trái tim con người.

Đối với truyện ngắn, học sinh có thể dùng mẫu kết bài nhấn mạnh hiện thực và nhân đạo như sau: Tóm lại, bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, khắc họa nhân vật chân thực và ngôn ngữ kể chuyện giàu sức gợi, tác giả đã làm nổi bật sâu sắc vấn đề nghị luận. Tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực đời sống mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo, niềm tin vào con người và bản lĩnh sáng tạo của nhà văn. Vì thế, truyện ngắn ấy vẫn luôn giữ được giá trị trong dòng chảy văn học dân tộc.

Một mẫu chung khác cho truyện là: Khép lại trang văn, câu chuyện có thể dừng lại nhưng dư âm về số phận con người, về vẻ đẹp tâm hồn hoặc về thông điệp nhân sinh mà tác giả gửi gắm vẫn còn vang vọng. Thành công của tác phẩm không chỉ nằm ở nội dung sâu sắc mà còn ở cách thể hiện giàu nghệ thuật, qua đó góp phần khẳng định vị trí riêng của nhà văn trong nền văn học.

Những mẫu trên chỉ là khung vận dụng. Khi làm bài, học sinh cần thay thế đúng tên tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận và nét nghệ thuật phù hợp để kết bài không bị chung chung.

 

4.1 Kết bài chung (mẫu 1)

Bài thơ anh làm một nửa mà thôi.

Còn một nửa cho mùa thu làm lấy.

Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá.

Nó không là anh nhưng nó là mùa.

Quả thật khi những vần thơ của ông/ bà ngân lên, chúng ta không ngừng xúc động, bâng khuâng bởi sự sáng tạo độc đáo về nội dung, về nghệ thuật. Tiếng thơ cũng như tiếng lòng của tác giả ghi lại dấu ấn đặc biệt trong lòng người đọc.

 

4.2 Kết bài chung (mẫu 2)

Hiện thực là muôn màu muôn vẻ đa tạp, cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên tồn tại lẫn lộn, nhiều khi bản chất cái quy luật lại biểu hiện ra dưới hình thức, cái ngẫu nhiên tạm thời, cái không bản chất. Văn chương nhận thức cuộc sống là phải luôn tìm ra được các quy luật của đời sống. Chính vì lẽ đó mà tác phẩm A của nhà văn B đã đi sâu vào đời sống tinh thần của con người để khám phá ra vẻ đẹp ẩn sâu sự nghèo khổ, túng quẫn của họ. Bằng nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật đặc sắc tác phẩm A đã lên tiếng B.

 

4.3 Kết bài chung (mẫu 3)

Xuân Diệu quan niệm: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”. Tác giả A đã đem hiện thực ấy vào trong trang viết của mình một cách tự nhiên, đồng thời A cũng khiến trái tim người đọc tan chảy khi suy ngẫm về (vấn đề nghị luận) của tác phẩm B. Quả thực văn học chân chính nằm ngoài sự băng hoại của thời gian nên tác phẩm B vẫn sáng ngời cho đến tận hôm nay và mãi mãi về sau”.

 

4.4 Kết bài chung (mẫu 4)

Những năm tháng trôi đi và lịch sử không ngừng biến động. Những tác phẩm B của nhà văn/nhà thơ A mãi là bông hoa không tuổi tựa mùa xuân không ngày tháng đã ghi lại quá khứ hào hùng, sôi động của đất nước mình một thuở, tác phẩm mãi là đóa hoa bất diệt như mùa xuân vô định, ghi lại quá khứ oanh liệt, rực rõ một thời của đất nước mình. Vẻ đẹp của con người Việt Nam đã làm nên cái hồn của cả dân tộc và góp phần làm cho tác phẩm sống mãi với thời gian.

 

4.5 Kết bài chung bài thơ Tây Tiến (mẫu 5)

Đọc Tây Tiến, cái ta cảm nhận được không chỉ là vẻ đẹp hào hùng, hòa hoa, sự hy sinh bi tráng của người lính Tây Tiến mà vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền Tây. Tất cả hiện lên thật rõ nét trong nỗi nhớ của nhân vật trữ tình, nỗi nhớ thương chưa khi nào nguôi dứt. Có thể nói, vời bài thơ này, Quang Dũng đã xây dựng thành công bức tượng đài bất hủ về người lính trong kháng chiến chống Pháp. Khói lửa chiến tranh đã qua đi, lịch sử dân tộc cũng đã bước sang trang mới, nhiều người thuộc đoàn quân Tây Tiến năm xưa giờ đây đã trở thành thiên cổ, trong đó có cả nhà thơ Quang Dũng hào hoa… Đúng như những vần thơ Giang Nam từng viết:

“Tây Tiến biên cương mờ khói lửa

Quân đi lớp lớp động cây rừng

Và bài thơ ấy, con người ấy

Vẫn sống muôn đời với núi sông”

 

4.6 Kết bài chung bài thơ Sóng (mẫu 6)

Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu:

“Khi ta còn trẻ, thơ là người mẹ

Ta lớn lên rồi, thơ là người bạn, người yêu

Chăm sóc tuổi già, thơ là con gái

Lúc chết đi rồi, kỷ niệm hóa lưu thơ".

Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, bà đã làm phong phú hơn cho nền thơ nước nhà.

 

4.7 Kết bài chung (mẫu 7)

Nói đến cá tính sáng tạo và phong cách nhà văn là nói đến một loại thước đo nghệ thuật. Bất cứ nhà văn nào muốn khẳng định sự hiện diện tồn tại của mình trong đời sống văn học phải tạo cho mình một phong cách riêng với cá tính sáng tạo riêng vì đây là một chuẩn giá trị trong sáng tạo nghệ thuật để “xác định nhà văn này khác với nhà văn kia”. Và nhà văn A với tác phẩm B đã ghi dấu ấn đặc biệt trong lòng người đọc bởi cái tôi nghệ thuật độc đáo không nhầm lẫn với bất cứ tác giả nào. Đó cũng chính là thành công nổi bật trong sự nghiệp văn chương của ông/ bà.

 

4.8 Kết bài chung Người lái đò sông Đà (mẫu 8)

Viết về Người lái đò sông Đà, viết về một vùng quê hương Tổ quốc, Nguyễn Tuân đã thể hiện nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết đối với người lao động và thiên nhiên đất nước. Sông Đà càng đẹp, càng sinh động, ông lái đò càng anh dũng, ngoan cường trong công việc, ta càng thấy được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn. Văn chương của Nguyễn Tuân đã mang đến cho chúng ta một chân trời huyền bí riêng biệt, hấp dẫn và độc đáo. Đó là chân trời của cái đẹp, của sự tài hoa và uyên bác…

 

4.9 Kết bài chung Vợ chồng A Phủ (mẫu 9)

Qua tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, ta thấy không chỉ tố cáo bọn chúa đất chúa mường, Tô Hoài còn phát hiện, ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất và khát vọng tự do hạnh phúc, cùng sức sống mãnh liệt trong tâm hồn người lao động. Đó chính là chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, gắn tình thương với đấu tranh, gắn niềm tin vào tương lai đầy triển vọng của con người. Đó chính là sự diễn tả hợp lý những nghịch cảnh, những diễn biến phức tạp trong tâm hồn Mị, giúp nhà văn phần nào đạt đến cái gọi là “phép biện chứng tâm hồn”.

 

4.10 Kết bài chung Vợ nhặt (mẫu 10)

Trên phông nền u ám của nạn đói, của cái chết, tiếng quạ kêu thê thiết với mùi đống dâm khét lẹt, Kim Lân vẫn pha vào đó một chút màu sắc ấm áp của hạnh phúc lứa đôi, lóe lên hy vọng về một ngày mai tươi sáng, về sự thay đổi vận hội. Thông qua tình huống dở khóc dở cười vô cùng trớ trêu đó, tác giả ngầm khẳng định một chân lý: “Sự sống nảy sinh từ trong lòng cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong gian khổ hy sinh. Ở đời này không có con đường cùng mà đây chỉ là những ranh giới. Điều cốt yếu là con người phải chuẩn bị cho mình một sức mạnh để có thể vượt qua những ranh giới ấy”.

 

5. Lưu ý quan trọng để viết kết bài nghị luận văn học đạt điểm cao

Lưu ý đầu tiên là không lặp nguyên văn mở bài. Mở bài và kết bài cần có sự liên kết nhưng không được sao chép lại nhau. Nếu mở bài là nêu vấn đề, thì kết bài phải là sự tổng hợp và nâng cao vấn đề.

Lưu ý thứ hai là không đưa ý mới hoàn toàn chưa phân tích trong thân bài. Kết bài là nơi chốt lại, không phải nơi mở ra một luận điểm mới. Nhiều học sinh vì muốn “nâng tầm” mà đưa thêm nhận xét chưa có cơ sở, khiến kết bài bị gượng và thiếu logic.

Lưu ý thứ ba là dung lượng phải vừa phải. Một kết bài quá ngắn dễ cụt ý, nhưng quá dài lại làm loãng điểm nhấn. Thông thường, một kết bài khoảng 4 đến 6 câu là hợp lý cho bài thi phổ thông. Trong trường hợp thời gian gấp, vẫn nên viết tối thiểu 2 đến 3 câu để bảo đảm đủ cấu trúc bài văn.

Lưu ý thứ tư là ngôn ngữ cần chọn lọc. Kết bài nên có độ trau chuốt hơn thân bài một chút, nhưng vẫn phải sáng rõ, tự nhiên. Tránh các câu sáo rỗng như “tác phẩm đã để lại cho em nhiều cảm xúc” nếu không có thêm chiều sâu phân tích. Nên dùng những cụm từ có tính khái quát và đánh giá như “khẳng định giá trị”, “để lại dư âm”, “góp phần làm nên sức sống”, “thể hiện tài năng”, “mang ý nghĩa nhân văn bền vững”.

Lưu ý cuối cùng là cần linh hoạt theo dạng đề. Nếu đề thiên về nội dung, kết bài nên nhấn mạnh thông điệp tư tưởng và giá trị nhân sinh. Nếu đề thiên về nghệ thuật, kết bài nên tập trung vào phong cách, bút pháp và đóng góp thẩm mỹ của tác phẩm. Viết đúng trọng tâm như vậy sẽ giúp kết bài gọn mà vẫn trúng ý.

 

6. Câu hỏi thường gặp về cách viết kết bài

Có nên học thuộc mẫu kết bài không?

Có thể học thuộc khung kết bài để làm quen với cấu trúc, nhưng không nên chép nguyên xi trong mọi đề. Điều cần học là cách kết, không phải một đoạn văn cố định. Khi vào bài cụ thể, học sinh vẫn phải thay đổi cho phù hợp với tác phẩm và yêu cầu đề.

Kết bài có bắt buộc phải liên hệ bản thân không?

Không bắt buộc. Liên hệ bản thân chỉ phù hợp với một số đề thiên về giá trị tư tưởng, bài học nhân sinh. Nhiều đề chỉ cần kết lại bằng đánh giá nội dung và nghệ thuật là đủ. Nếu liên hệ không khéo, bài viết dễ bị gượng.

Nếu sắp hết giờ mà chưa viết kết bài thì nên làm thế nào?

Trong trường hợp thời gian rất ít, nên viết một kết bài trực tiếp thật ngắn: khẳng định giá trị nội dung của tác phẩm, nêu nét nghệ thuật nổi bật và đánh giá chung về tác giả. Dù ngắn, phần này vẫn giúp bài văn hoàn chỉnh hơn việc bỏ trống.

Kết bài hay nhất có phải là kết bài dài và nhiều cảm xúc?

Không hẳn. Kết bài hay là kết bài đúng, gọn, có chiều sâu và tạo dư âm. Một đoạn ngắn nhưng chắc ý vẫn tốt hơn một đoạn dài mà lặp hoặc lan man.

Có thể dùng nhận định lý luận văn học trong kết bài không?

Có thể, nếu dùng đúng và tự nhiên. Nhận định lý luận chỉ nên là điểm tựa để làm nổi bật giá trị tác phẩm, không nên biến kết bài thành nơi trưng ra kiến thức một cách gượng ép.

Làm sao để kết bài không bị sáo?

Cách tốt nhất là bám sát đúng vấn đề nghị luận, dùng từ ngữ của chính mình, tránh những câu quá quen thuộc và cố gắng thêm vào một nhận xét thật sự xuất phát từ mạch phân tích của bài. Khi người viết hiểu tác phẩm, kết bài thường sẽ tự nhiên và ít sáo hơn.

Quý bạn đọc có thể tham khảo thêm: