1. Lập hồ sơ vay vốn chiếm đoạt 10 tỷ có phải tội tham ô tài sản không?
Theo quy định tham ô tài sản là một trong những tội phạm tham nhũng về chức vụ, theo đó tại Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tham ô có thể hiểu là hành vi của người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Như vậy, Tham ô tài sản là những quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức trong nhà nước và của cả các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước; làm cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp này bị suy yếu, mất uy tín; làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước. Hành vi tham ô tài sản đã tác động đến tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý. Tài sản này bao gồm tài sản của nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức trong nhà nước hoặc là tài sản của các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước.
Như vậy, hành vi lập hồ sơ để chiếm đoạt 10 tỷ đồng Trưởng phòng giao dịch Quỹ phát triển phụ nữ được coi là hành vi tham ô tài sản vì người này là người có chức vụ là quản lý tài sản đó nhưng thay vì việc quản lý mà họ đã lợi dụng vào việc đó để chiếm đoạt nó. Hành vi chiếm đoạt tài sản đó có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của người phạm tội, nếu người phạm tội không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó hoặc không thể thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản. Chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản một cách dễ dàng.
2. Xử lý hành vi tham ô tài sản của Trưởng phòng giao dịch Quỹ phát triển phụ nữ
Theo Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017), người phạm tội tham ô tài sản bị xử lý như sau:
Khung 1: Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
+ Người này đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
+ Hoặc người thực hiện hành vi vi đã bị kết án nhưng chưa được xoá án tích nhưng vẫn thực hiện hành vi vi phạm về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017)
Khung 2: Người thực hiện hành vi vi phạm bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, nếu thực hiện hành vi này một cách có tổ chức; đã phạm tội 2 lần trở lên; dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; hoặc người thực hiện hành vi này đã chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền, tài sản mà đáng lẽ ra được dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng hoặc các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;
- Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;
- Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức.
Khung 3: Bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm khi thực hiện một trong các trường hợp sau đây:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
- Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.
Khung 4: phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình khi thực hiện một trong các hành vi dưới đây
- Người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
- Người thực hiện hành vi gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
Như vậy, người phạm tội tham ô tài sản có thể bị xử phạt với mức phạt cao nhất 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Ngoài ra, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội tham ô tài sản có tác dụng hỗ trợ hình phạt chính, tăng khả năng trừng trị người phạm tội, giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Như vậy có thể thấy được dấu hiệu pháp lý về tội Tham ô tài sản theo quy định như sau:
Thứ nhất: Chủ thể của Tội tham ô tài sản là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức nhà nước và doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước, từ đủ 16 tuổi trở lên và không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 12, Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015). Đối với Tội tham ô tài sản các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm là các dấu hiệu quan trọng nhất để xác định hành vi phạm tội.
Thứ hai: Tội tham ô tài sản có tính chất chiếm đoạt tài sản mà tài sản này lại do người tham ô quản lý chính vì vậy đối với tội có tính chất chiếm đoạt khác, người phạm tội thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp, tức là, “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra; không có trường hợp tham ô tài sản nào được thực hiện do cố ý gián tiếp, vì người phạm tội này bao giờ cũng mong muốn chiếm đoạt được tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Như vậy, hành vi lập hồ sơ để chiếm đoạt 10 tỷ của Trưởng phòng giao dịch Quỹ phụ nữ là hành vi tham ô tài sản do một người có chức vụ chịu trách nhiệm quản lý tài sản chiếm đoạt nó. Với số tiền tham ô là 10 tỷ thì tuỳ từng tính chất và mức độ phạm tội có thể truy cứu hình sự tội tham ô tại khung thứ 4 tội phạm đó là phạt tù cao nhất 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
3. Quyết định hình phạt đối với Tội tham ô tài sản của Trưởng phòng giao dịch Quỹ phụ nữ
Theo quy định chung của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật sẽ cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trường hợp áp dụng hình phạt tiền ngoài việc căn cứ quy định nêu trên thì Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.
Vậy để quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản của Trưởng phòng giao dịch Quỹ phụ nữ theo khung thứ 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 nêu trên, Toà án cần căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại Chương VIII Bộ luật Hình sự năm 2015 (từ Điều 50 đến Điều 59).Theo đó:
- Nếu người đó phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, không có tình tiết tăng nặng, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật (từ 15 năm tù đến dưới 20 năm tù).
- Nếu người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật (dưới 15 năm tù).
- Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, không có tình tiết giảm nhẹ thì có thể bị phạt đến tử hình.
Như vậy, khi quyết định hình phạt đối với trưởng phòng giao dịch Quỹ phụ nữ, Toà án sẽ cần phải căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm để đưa ra phán quyết cuối cùng.
Như vậy, chúng tôi đã trao đổi một vài thông tin hữu ích liên quan đến chủ đề trên, khách hàng muốn hỗ trợ thêm thì liên hệ qua hotline 1900.6162. Hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc. Cảm ơn quý khách hàng!