Căn cứ pháp lý:

- Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2010;

- Nghị định 18/2005/NĐ-CP;

- Thông tư 52/2005/TT-BTC;

1. Doanh thu của tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Doanh thu của tổ chức bảo hiểm tương hỗ bao gồm:

- Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Thu phí bảo hiểm gốc, phí nhận tái bảo hiểm; thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm, thu phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàng bồi thường 100%; thu phí giám định tổn thất độc lập trừ đi các khoản phải chi để giảm thu như: hoàn phí bảo hiểm, giảm phí bảo hiểm; phí nhượng tái bảo hiểm, hoàn phí nhận tái bảo hiểm, giảm phí nhận tái bảo hiểm; hoàn hoa hồng nhượng tái bảo hiểm; giảm hoa hồng nhượng tái bảo hiểm.

- Doanh thu hoạt động tài chính: Thu hoạt động đầu tư theo quy định tại khoản 5 Mục V Thông tư 52/2005/TT-BTC; thu từ hoạt động mua bán chứng khoán; thu lãi trên số tiền ký quỹ; thu cho thuê tài sản; hoàn nhập số dư dự phòng giảm giá chứng khoán và các khoản thu hoạt động tài chính khác theo quy định của pháp luật.

- Thu nhập hoạt động khác: Thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; các khoản nợ khó đòi đã xoá nay thu hồi được; thu tiền phạt vi phạm hợp đồng và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

2. Nguyên tắc xác định doanh thu của tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm là số tiền phải thu phát sinh trong kỳ được xác định theo nguyên tắc sau:

- Tổ chức bảo hiểm tương hỗ hạch toán khoản thu phí bảo hiểm gốc vào thu nhập khi phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của tổ chức bảo hiểm tương hỗ đối với thành viên của tổ chức theo quy định tại Điều 15 Luật kinh doanh bảo hiểm, cụ thể như sau:

+ Tổ chức bảo hiểm tương hỗ hạch toán vào thu nhập khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết giữa tổ chức bảo hiểm tương hỗ và thành viên của mình hoặc có bằng chứng tổ chức bảo hiểm tương hỗ đã chấp nhận bảo hiểm và thành viên của tổ chức bảo hiểm tương hỗ đã đóng phí bảo hiểm.

 + Tổ chức bảo hiểm tương hỗ có thoả thuận cho thành viên của mình được nợ phí bảo hiểm. Trong trường hợp này tổ chức bảo hiểm tương hỗ vẫn phải hạch toán vào doanh thu khoản tiền cho thành viên nợ mặc dù thành viên đó chưa đóng phí bảo hiểm.

+ Tổ chức bảo hiểm tương hỗ thoả thuận với thành viên của mình việc đóng phí bảo hiểm theo kỳ (mỗi kỳ tương ứng với một năm tài chính của các hợp đồng bảo hiểm kéo dài trong nhiều năm). Trong trường hợp này, tổ chức bảo hiểm tương hỗ hạch toán vào doanh thu tương ứng với kỳ hoặc các kỳ phí bảo hiểm đã phát sinh, không hạch toán vào thu nhập phần phí bảo hiểm chưa đến kỳ thành viên phải nộp phí theo như đã thoả thuận.

- Đối với các khoản thu còn lại: tổ chức bảo hiểm tương hỗ hạch toán vào doanh thu ngay khi hoạt động kinh tế phát sinh, có bằng chứng chấp thuận thanh toán của các bên, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.

- Đối với các khoản phải chi để giảm thu: tổ chức bảo hiểm tương hỗ hạch toán vào giảm doanh thu ngay khi hoạt động kinh tế phát sinh, có bằng chứng chấp thuận của các bên, không phân biệt đã chi hay chưa chi tiền.

Doanh thu hoạt động tài chính: là số tiền phải thu phát sinh trong năm tài chính.

Thu nhập hoạt động khác: là toàn bộ số tiền bán hàng hoá, dịch vụ sau khi đã trừ (-) các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại (nếu có chứng từ hợp lệ) được khách hàng chấp thuận thanh toán, không phân biệt đã thu được hay chưa thu được tiền.

Các khoản thu của tổ chức bảo hiểm tương hỗ phát sinh trong kỳ trên cơ sở hoá đơn hoặc chứng từ hợp lệ và phải được hạch toán đầy đủ vào doanh thu.

3. Chi phí của tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Chi phí của tổ chức bảo hiểm tương hỗ là các khoản phải chi, phải trích phát sinh trong kỳ bao gồm:

Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm:

- Bồi thường bảo hiểm gốc; chi bồi thường nhận tái bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo cam kết tại hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tái bảo hiểm trừ đi các khoản phải thu để giảm chi như: thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm, thu đòi người thứ ba bồi hoàn, thu hàng đã xử lý, bồi thường 100%;

- Trích lập dự phòng nghiệp vụ theo quy định tại khoản 3 Mục V Thông tư này;

- Chi hoa hồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Mục IV Thông tư này;

- Chi giám định tổn thất;

- Chi phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn;

- Chi xử lý hàng bồi thường 100%;

- Chi quản lý đại lý bảo hiểm;

- Chi đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định tại khoản 6 Mục IV Thông tư này;

- Chi đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm bao gồm các khoản chi cho công tác thu thập thông tin, điều tra, thẩm định về đối tượng bảo hiểm;

- Tiền lương, tiền công, tiền thưởng, trợ cấp thôi việc và các khoản mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của pháp luật;

- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải trả theo quy định của pháp luật;

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

Chi phí hoạt động tài chính là số phải chi trong năm tài chính bao gồm:

- Chi phí cho hoạt động đầu tư theo quy định tại khoản 5 Mục V Thông tư 52/2005/TT-BTC;

- Chi phí cho thuê tài sản;

- Chi thủ tục phí ngân hàng, trả lãi tiền vay;

- Trích dự phòng giảm giá chứng khoán;

- Chi khác theo quy định của pháp luật.

Chi phí hoạt động khác là số phải chi trong năm tài chính bao gồm:

- Chi nhượng bán, thanh lý tài sản cố định;

- Chi phí cho việc thu hồi khoản nợ phải thu khó đòi đã xoá nay thu hồi được;

- Chi tiền phạt do vi phạm hợp đồng;

- Chi khác theo quy định của pháp luật.

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ không được hạch toán vào chi phí các khoản sau:

- Các khoản tiền phạt mà tập thể, cá nhân phải nộp do vi phạm pháp luật;

- Các khoản chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định, chi trợ cấp khó khăn cho người lao động, chi ủng hộ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;

- Các khoản chi sự nghiệp, chi khen thưởng, chi phúc lợi, chi trợ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất và các khoản khác do nguồn kinh phí khác đài thọ;

- Các khoản chi không hợp lý khác theo quy định của pháp luật.

4. Lợi nhuận của tổ chức bảo hiểm tương hỗ được sử dụng cho mục đích gì?

Điều 36 Nghị định 18/2005/NĐ-CP quy định:

Điều 36. Phân chia kết quả kinh doanh

1. Lợi nhuận của tổ chức bảo hiểm tương hỗ là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu trừ tổng chi phí của tổ chức bảo hiểm tương hỗ.

2. Lợi nhuận của tổ chức bảo hiểm tương hỗ được sử dụng cho những mục đích sau:

a) Hoàn trả các khoản vay vốn thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ;

b) Trích lập quỹ dự trữ bắt buộc và các quỹ khác theo quy định của pháp luật;

c) Làm cơ sở để giảm phí bảo hiểm đối với các hợp đồng bảo hiểm được tái tục trong năm tài chính tiếp theo;

d) Các mục đích khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức bảo hiểm tương hỗ và các văn bản pháp luật có liên quan.

Khoản 10 Mục V Thông tư 52/2005/TT-BTC quy định: 

10. Phân chia lợi nhuận

10.1. Lợi nhuận sau thuế của tổ chức bảo hiểm tương hỗ được sử dụng cho các mục đích sau:

10.1.1. Trích lập quỹ dự trữ bắt buộc theo quy định của pháp luật;

10.1.2. Trích lập các quỹ tự nguyện khác của tổ chức bảo hiểm tương hỗ;

10.1.3. Phần lợi nhuận sau thuế sau khi đã trích lập quỹ dự trữ bắt buộc và các quỹ tự nguyện khác được dùng để trích lập quỹ thặng dư.

Như vậy, lợi nhuận của tổ chức bảo hiểm tương hỗ được sử dụng cho những mục đích sau:

- Hoàn trả các khoản vay vốn thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ;

- Trích lập quỹ dự trữ bắt buộc theo quy định của pháp luật;

- Trích lập các quỹ tự nguyện khác của tổ chức bảo hiểm tương hỗ;

- Phần lợi nhuận sau thuế sau khi đã trích lập quỹ dự trữ bắt buộc và các quỹ tự nguyện khác được dùng để trích lập quỹ thặng dư.

- Làm cơ sở để giảm phí bảo hiểm đối với các hợp đồng bảo hiểm được tái tục trong năm tài chính tiếp theo;

- Các mục đích khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức bảo hiểm tương hỗ và các văn bản pháp luật có liên quan.

5. Chế độ bảo cáo của tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Thông tư 52/2005/TT-BTC quy định:

Các loại báo cáo phải thực hiện:

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ có trách nhiệm lập và gửi các báo cáo tài chính, báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ theo quy định của pháp luật hiện hành.

- Báo cáo tài chính:

+ Tổ chức bảo hiểm tương hỗ thực hiện quyết toán tài chính và chấp hành đầy đủ các quy định về báo cáo tài chính, lập và gửi cho cơ quan tài chính Nhà nước, cơ quan thống kê, cơ quan thuế theo quy định của pháp luật hiện hành.

+ Báo cáo tài chính hàng năm của tổ chức bảo hiểm tương hỗ phải được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận.

- Báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ:

Tổ chức bảo hiểm tương hỗ thực hiện lập và gửi cho Bộ Tài chính các báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ theo quý và năm cụ thể như sau:

+ Báo cáo doanh thu phí bảo hiểm: theo phụ lục VI

+ Báo cáo bồi thường bảo hiểm: theo phụ lục VII

+ Báo cáo thanh toán hoa hồng bảo hiểm: theo phụ lục VIII

+ Báo cáo trích lập dự phòng nghiệp vụ: theo phụ lục IX

+ Báo cáo hoạt động đầu tư: theo phụ lục X

+ Báo cáo khả năng thanh toán: theo phụ lục XI (Tổ chức bảo hiểm tương hỗ chỉ thực hiện báo cáo hàng năm).

- Báo cáo Hệ thống chỉ tiêu giám sát:

Báo cáo Hệ thống chỉ tiêu giám sát theo Quyết định số 153/2003/QĐ-BTC ngày 22 tháng 9 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ phải lập và gửi Bộ Tài chính báo cáo Hệ thống chỉ tiêu giám sát cùng với Báo cáo tài chính.

- Báo cáo quý: tổ chức bảo hiểm tương hỗ phải lập và gửi Bộ Tài chính chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc quý.

- Báo cáo năm: tổ chức bảo hiểm tương hỗ phải lập và gửi Bộ Tài chính chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.

Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chế độ tài chính:

- Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) tổ chức bảo hiểm tương hỗ có trách nhiệm giải trình các vấn đề tài chính liên quan theo yêu cầu của các cơ quan quản lý Nhà nước khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước theo quy định của pháp luật.

- Tổ chức bảo hiểm tương hỗ chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của các báo cáo tài chính của mình. Việc kiểm tra tài chính được tiến hành theo các hình thức:

+ Kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất;

+ Kiểm tra từng chuyên đề theo yêu cầu của công tác quản lý tài chính.

+ Tổ chức bảo hiểm tương hỗ vi phạm chế độ tài chính của Nhà nước sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: [email protected] để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.