Hàng hóa giao dịch trong thị trường chứng khoán (cũng như thị trường bất động sản) sở dĩ được cho là đặc biệt là do ở tính chất đầu tư. Kết quả “được” hay “mất” dựa trên cơ sở vốn đầu tư có thể thấy được qua điểm giá (to mark to the market) trong khi nó đang được nắm giữ, hay lúc kết giá (realizing value) lúc người ta bán nó đi.

Các kết quả như vậy đương nhiên rất được chú trọng, và có biệt ngữ để diễn đạt là capital gain hay capital loss. Tương ứng ta dịch là “lời tăng vốn” hay “lỗ thâm vốn”, hoặc gọn hơn “lời vốn” và “lỗ vốn”.

 

1. Lợi nhuận đầu tư vốn là gì?

Lợi nhuận (hay lỗ) đầu tư vốn là sự chênh lệch giữa giá bán một tài sản và chi phí của nó khi mua vào. Nếu sự chênh lệch là dương, có lợi nhuận, nếu âm, kết quả là lỗ. Lợi nhuận vốn dài hạn được đánh thuế theo lãi suất tối đa 20% cho người đóng thuế trong khung thuế đến 28% hay cao hơn, và với lãi suất 15% cho khung thuế 15% theo Đạo luật Giảm thuế cho người Nộp thuế 1997. Các tài sản được mua sau 1/1/2000 và được giữ ít nhất năm năm, đủ tiêu chuẩn nộp thuế lợi nhuận vốn tối đa 18% đối với người trong khung thuế 28% và 8% cho người trong khung thuế 15%.

 

2. Lãi vốn là gì?

Lãi vốn hay còn gọi là lợi tức vốn (Capital gain) là lợi nhuận thu được từ việc bán một tài sản đã tăng giá trị trong thời gian nắm giữ, tài sản này có thể bao gồm tài sản hữu hình, một doanh nghiệp hoặc tài sản vô hình như cổ phiếu. Đây là là khoản chênh lệch dương giữa giá bán tài sản và giá mua ban đầu. Trong trường hợp giá mua cao hơn giá bán thì nghĩa là lỗ vốn. Lợi nhuận vốn thường được tính thông qua việc lấy giá bán của một tài sản và trừ đi chi phí cơ bản và mọi chi phí phát sinh[1]. Sở Thuế vụ Hoa Kỳ (IRS) định nghĩa lãi hoặc lỗ vốn là “chênh lệch cơ sở giữa tài sản và số tiền thu được từ việc bán tài sản này

Lãi vốn là sự gia tăng giá trị của một tài sản vốn (khoản đầu tư hoặc bất động sản) mang lại cho tài sản giá trị cao hơn giá mua ban đầu. Tiền lãi sẽ thu được khi tài sản được bán. Lợi nhuận vốn cũng được định nghĩa thêm là có các dạng ngắn hạn hoặc dài hạn. Lãi vốn ngắn hạn xảy ra khi nắm giữ tài sản cơ sở dưới một năm, trong khi lãi vốn dài hạn diễn ra khi nắm giữ tài sản trên một năm[2]. Ngày sở hữu sẽ được tính từ ngày sau ngày mua tài sản cho đến ngày tài sản được bán[2]. Lợi tức vốn thường phải chịu thuế, trong đó tỷ lệ và mức miễn giảm có thể khác nhau giữa các quốc gia. Lãi về vốn ngắn hạn thường ở chứng khoán nắm giữ trong một năm hoặc ít hơn. Những khoản lãi này được đánh thuế dưới dạng thu nhập thông thường dựa trên tình trạng nộp thuế của từng cá nhân và tổng thu nhập được điều chỉnh. Lãi về vốn dài hạn thường bị đánh thuế ở mức thấp hơn thu nhập thường xuyên.

 

2.1 Lịch sử của lãi vốn

Lịch sử của lãi vốn bắt nguồn từ sự ra đời của hệ thống kinh tế hiện đại và sự phát triển của nó đã được nhiều nhà tư tưởng kinh tế mô tả là phức tạp và đa chiều. Khái niệm lợi tức vốn có thể được coi là so sánh với các khái niệm kinh tế quan trọng khác như lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, tuy nhiên đặc điểm phân biệt của nó là các cá nhân, không chỉ doanh nghiệp, có thể tích lũy lãi vốn thông qua việc mua và xử lý tài sản hàng ngày. Lịch sử của hình thái lãi vốn trong quá trình phát triển của lịch sử loài người bao gồm những hình thành khái niệm từ tư bản nô lệ trước năm 1865 ở Hoa Kỳ, đến sự phát triển quyền sở hữu ở Pháp vào năm 1789, và thậm chí những bước phát triển khác trước đó rất lâu[3].

Sự khởi đầu chính thức của việc áp dụng lãi vốn trên thực tế đã diễn ra với sự phát triển của hệ thống tài chính ở Babylon vào khoảng năm 2000 Trước Công nguyên. Hệ thống này đã giới thiệu ra mô hình các kho bạc, nơi cư dân có thể gửi bạc và vàng để bảo quản an toàn, và cũng có thể giao dịch với các thành phần khác trong nền kinh tế[4]. Do đó, điều này cho phép người Babylon tính toán chi phí, giá bán và lợi nhuận, và do đó thu được lợi nhuận từ vốn, sau này, mánh mung đó đã được mô tả chi tiết trong tác phẩm Người giàu có nhất thành Babylon của George Samuel Clason với 5 quy luật của vàng và nguyên tắc phải làm cho vàng sinh lợi:

Mỗi một đồng bạc ví như một tên nô lệ làm việc chăm chỉ, sau đó con, cháu và chắt của chúng cũng làm việc cho bạn, khiến tiền bạc của bạn không ngừng gia tăng, tài sản của bạn ngày càng lớn mạnh”.

 

2.2 Cách tính capital gain 

Lợi tức vốn thường được tính thông qua việc lấy giá bán của một tài sản và trừ đi chi phí cơ bản và mọi chi phí phát sinh. 

Giá trị kết quả sẽ là lãi vốn hoặc lỗ vốn nếu âm. Trên thực tế, nhiều chính phủ cung cấp các phương pháp bổ sung để tính lãi vốn cho cả cá nhân và doanh nghiệp. 

Các phương pháp này có thể giúp giảm thuế thông qua việc giảm giá trị thu nhập vốn được tính toán.

 

2.3 Đánh thuế tiền lãi  

Thường có sự khác biệt đáng kể trong việc đánh thuế thu nhập từ vốn mà các cá nhân và tập đoàn kiếm được, và OECD công nhận ba loại thu nhập vốn cá nhân đơn giản mà các quốc gia thành viên trên thế giới đánh thuế. Chúng bao gồm:

  • Thu nhập từ cổ tức 
  • Thu nhập từ tiền lãi 
  • Thu nhập từ vốn được thực hiện thông qua tài sản và cổ phiếu

Thuế suất cổ tức trung bình của OECD là 41,8%, theo đó cổ tức thường bị đánh thuế ở cả cấp độ doanh nghiệp và cá nhân và được phân loại là thu nhập doanh nghiệp thứ nhất và thu nhập cá nhân thứ hai.

Tuy nhiên, một số quốc gia nhất định như Úc, Chile, Mexico và New Zealand sử dụng hệ thống thuế áp thuế cho phép các công ty đổi các khoản tín dụng áp dụng cho khoản thuế đã nộp ở cấp công ty, do đó giảm gánh nặng thuế của họ. 

Thuế suất thuế thu nhập lãi trung bình của OECD là 27%, và hầu như tất cả các nước OECD trừ Chile, Estonia, Israel và Mexico đều đánh thuế tổng thu nhập từ lãi danh nghĩa của một cá nhân. 

 

Nội dung đủ điều kiện 

Lợi tức vốn chỉ có thể thu được khi bán tài sản có lãi. Một cựu Kế toán trưởng của Ủy ban Giao dịch Chứng khoán đã định nghĩa một tài sản là: “Tiền mặt, các yêu cầu theo hợp đồng đối với tiền mặt hoặc dịch vụ và các vật phẩm có thể được bán riêng lẻ lấy tiền mặt”. Các ứng dụng thực tế của định nghĩa này chủ yếu bao gồm cổ phiếu và bất động sản.

 

Cổ phiếu 

Lợi tức vốn có thể kiếm được thông qua việc bán các tài sản tài chính như cổ phiếu. Khi một người bán một cổ phiếu, họ sẽ trừ giá vốn trên giá bán để tính lãi hoặc lỗ vốn của họ.

Lợi tức vốn có thể kiếm được thông qua việc bán các tài sản tài chính như cổ phiếu. Khi một người bán một cổ phiếu, họ sẽ trừ giá vốn trên giá bán để tính lãi hoặc lỗ vốn của họ.

 

Bất động sản 

Lợi tức vốn có thể thu được thông qua việc bán các tài sản vật chất như nhà, căn hộ hoặc đất đai. Tuy nhiên, ở hầu hết các quốc gia, việc bán nhà ở chính hoặc nhà ở chính được miễn thuế thu nhập vốn. 

Ví dụ: Sở Thuế vụ Úc miễn hoàn toàn thuế thu nhập vốn đối với việc bán một căn nhà chính, miễn là cá nhân hoặc cặp vợ chồng đáp ứng các tiêu chí đủ điều kiện nhất định.

 

Trái phiếu 

Lợi tức vốn có thể thu được thông qua việc bán các tài sản tài chính vô hình như trái phiếu. Lãi vốn sẽ đạt được khi giá bán trái phiếu cao hơn giá vốn, và lỗ vốn sẽ xảy ra nếu giá bán trái phiếu thấp hơn giá vốn.

 

2.4 Bản chất của lãi vốn là gì?

Tuy rằng lãi vốn là gì thì nó hay liên quan đến các cổ phiếu, kênh đầu tư và các công cụ tài chính khác do có sự biến động của cổ phiếu hoặc là quỹ nhưng nó cũng có thể xảy ra ở trên một chứng khoán bất kì khi mà chứng khoán đó được bán với giá cao hơn so với giá đã mua vào ban đầu. Dù lãi hay là lỗ vốn thì nó cũng chỉ được ghi nhận khi mà tài sản được bán và từ đó cũng sẽ tạo ra một khoản tính thuế. Lãi vốn và lỗ vốn khi mà chưa được ghi nhận thì nó chỉ có giá trị trên giấy và cũng chưa phải chịu thuế

 

3. Lỗ về vốn (Capital loss)

3.1. Định nghĩa

Lỗ về vốn trong tiếng Anh là Capital loss.

Lỗ về vốn là tổn thất phát sinh khi một tài sản vốn chẳng hạn như khoản đầu tư hoặc bất động sản giảm giá trị. Hiểu theo cách đơn giản, lỗ về vốn là khoản chênh lệch âm giữa giá bán tài sản và giá mua ban đầu.

 

3.2 Bản chất

Khoản lỗ về vốn không được ghi nhận cho đến khi tài sản được bán với giá thấp hơn giá mua ban đầu. Lỗ về vốn về cơ bản là sự khác biệt giữa giá mua và giá bán tài sản, trong đó giá bán thấp hơn giá mua.

Ví dụ, nếu một nhà đầu tư đã mua một căn nhà với giá 250.000 đô la và bán nhà năm năm sau đó với số tiền 200.000 đô la, nhà đầu tư sẽ nhận một khoản lỗ vốn là 50.000 đô la.

Đối với các mục đích thuế thu nhập cá nhân, các khoản lãi về vốn có thể bị bù trừ bởi các khoản lỗ về vốn. Trong trường hợp thanh lí với một mức giá bán nhỏ hơn giá mua, thu nhập chịu thuế được giảm trên cơ sở tiền mặt. Khoản lỗ ròng hơn 3.000 đô la có thể được chuyển sang năm sau để bù trừ lãi hoặc giảm trực tiếp thu nhập chịu thuế. Các khoản lỗ đáng kể được chuyển sang các năm tiếp theo cho đến khi số lỗ được trừ hết.

 

3.3 Đặc trưng

- Các khoản lỗ về vốn và lãi về vốn được báo cáo trong Mẫu 8949, vào ngày bán hàng xác định xem các giao dịch đó có phải là các khoản lãi hoặc lỗ ngắn hạn hay dài hạn hay không.

- Lãi về vốn ngắn hạn bị đánh thuế ở mức thu nhập bình thường dao động từ 10% đến 39,6% cho năm 2017. Do đó, các khoản lỗ ngắn hạn - phù hợp với lãi ngắn hạn, mang lại lợi ích cho những người có thu nhập cao có khoản lợi nhuận thực hiện bằng cách bán đi một tài sản được mua trong vòng một năm.

Các nhà đầu tư bị đánh thuế trên lãi về vốn dài hạn ở mức 15% hoặc 20% khi thu lợi nhuận trong trường hợp nắm giữ lâu hơn một năm, cũng được bù đắp bằng khoản lỗ về vốn được thực hiện sau một năm.

- Mẫu 8949 báo cáo mô tả về tài sản được bán, cơ sở chi phí của các tài sản đó và tổng số tiền thu được từ bán hàng, cuối cùng xác định liệu doanh số tổng hợp có dẫn đến lãi, lỗ hay mua bán giả tạo. Một khoản lỗ chạy từ Mẫu 8949 đến Bảng D, xác định số tiền được sử dụng để giảm thu nhập chịu thuế.