1. Khái quát về Luật báo chí

Luật báo chí vào năm 1989 là văn bản luật chứa đựng có hệ thống các quy phạm pháp luật về chế độ báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo nguyên tắc bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của công dân.

Luật báo chí được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá VIII, kì họp thứ 6 thông qua ngày 28.12.1989, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02.01.1990, được Quốc hội sửa đổi, bổ sung ngày 42.6.1999. Luật báo chí là cơ SỞ pháp lí bảo đảm để báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; tăng cường công tác quản lya nhà nước về hoạt động báo chí, không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động đúng pháp luật, đồng thời nghiêm cấm, không cho phép ai được lạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân.

Hiện nay, Luật báo chí năm 2016 và các văn bản pháp luật khác sửa đổi bổ sung Luật báo chí có quy định chi tiết về các vấn đề liên quan đến các vấn đề này.

Theo Luật báo chí, phạm vi điều chỉnh của Luật báo chí sẽ quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí.

2. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật báo chí

Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.

Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật báo chí là toàn bộ các vấn đề thuộc chế độ báo chí trên toàn lãnh thổ Việt Nam, bao gồm:

- Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí;

- Bảo đảm quyền tự do báo chí, quyển tự do ngôn luận trên báo chí;

- Các loại hình báo chí; quy định quyền và nghĩa vụ của cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan báo chí, người đứng đầu cơ quan báo chí và nhà báo;

- Quy định những vấn đề cơ bản thuộc quản lí nhà nước về báo chí như nội dung quản lí nhà nước, cơ quan quản lí nhà nước về báo chí, thanh tra báo chí, lưu chiểu, phát hành, quảng cáo, họp báo; quy định điều kiện hoạt động của báo chí, cấp giấy phép hoạt động báo chí...

Chế độ báo chí Việt Nam lần đầu được quy định tại Sắc lệnh số 282/SL ngày 14.12.1956. Sắc lệnh này gồm 3 chương với 19 điều được Quốc hội thông qua bằng Luật số 100/SL-L002 ngày 20.5.1957 về chế độ báo chí. Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước mà bước đầu đã thu được những thắng lợi quan trọng về nhiều mặt, để phát huy vai trò của báo chí trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng, ngày 28.12.1989, Luật báo chí đã được ban hành. Sau gần 10 năm thực hiện, năm 1999 Luật báo chí được Quốc hội sửa đổi, bổ sung.

3. Nội dung luật báo chí

Về bố cục và nội dung cơ bản, Luật báo chí bao gồm lời nói đầu, 7 chương và 30 điều. Mỗi chương, điều của Luật đều có tên gọi phản ánh nội dung chính của chương và điều luật đó.

Chương 1 - Những quy định chung, quy định vai trò, chức năng của báo chí; những bảo đảm từ phía Nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí; các loại hình báo chí.

Chương II quy định việc thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Chương III quy định nhiệm vụ, quyền hạn của báo chí, theo đó quy định cụ thể về việc cung cấp thông tin cho báo chí; trách nhiệm trả lời trên báo chí; cải chính trên báo chí và đặc biệt là quy định những điều mà báo chí không được đưa thông tin.

Chương IV quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức báo chí như cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí, Hội nhà báo Việt Nam; quy định về địa vị pháp lí của người đứng đầu cơ quan báo chí, nhà báo, cũng như các quyền và nghĩa vụ cụ thể của nhà báo khi thực hiện nghiệp vụ báo chí trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động báo chí ở nước ngoài...

Chương V quy định những vấn đề quản lí nhà nước về báo chí gồm: nội dung quản lí nhà nước, cơ quan quản lí nhà nước về báo chí, quan hệ quốc tế trong hoạt động báo chí, xuất bản và phát hành báo chí, thanh tra báo chí, điều kiện hoạt động của báo chí, cấp giấy phép hoạt động, thành lập cơ quan đại diện và cơ quan thường trú ở các địa phương, vùng, miền, ở nước ngoài, cơ quan thường trú của báo chí nước ngoài tại Việt Nam, thủ tục nộp lưu chiểu, phát hành, quảng cáo trên báo chí và tố chức họp báo...

Chương VI quy định về khen thưởng và xử lí vi phạm, các hình thức. vi phạm và chế tài áp dụng, theo đó, việc vi phạm pháp luật không chỉ từ phía cơ quan báo chí, người đứng đầu cơ quan báo chí, nhà báo và những người cung cấp thông tin sai sự thật, mà còn từ những cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về cung cấp thông tin, cản trở hoạt động báo chí, đe doạ, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phá huỷ hoặc làm hư hỏng phương tiện, tài liệu của nhà báo và cơ quan báo chí hoặc vi phạm các quy định khác của Luật báo chí đều bị xử lí nghiêm khắc với các chế tài kỉ luật, xử lí vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chương VII gồm các điều khoản về thi hành luật...

Luật báo chí Việt Nam không thừa nhận các tổ chức báo chí tư nhân.

Theo đó, tư nhân không có quyền ra báo chí.

Báo chí ở Việt Nam là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân, để quần chúng nhân dân thông qua đó, nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình, phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới, góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên của các tổ chức, cơ quan đó. Đồng thời thông qua báo chí, nhân dân biết được các thông tin về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới.

4. Một số thuật ngữ trong luật báo chí

- Cơ sở pháp lý: Luật báo chí năm 2016

+ Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.

+ Hoạt động báo chí là hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí; cung cấp thông tin và phản hồi thông tin cho báo chí; cải chính thông tin trên báo chí; xuất bản, in, phát hành báo in; truyền dẫn báo điện tử và truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo hình.

+ Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in.

+ Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau.

+ Báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau.

+ Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử.

+ Tác phẩm báo chí là đơn vị cấu thành nhỏ nhất của sản phẩm báo chí, có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, gồm tin, bài được thể hiện bằng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh.

+ Sản phẩm báo chí là ấn phẩm, phụ trương của báo in; nội dung hoàn chỉnh của báo điện tử; bản tin thông tấn; kênh phát thanh, kênh truyền hình; chuyên trang của báo điện tử.

+ Trang thông tin điện tử tổng hợp là sản phẩm thông tin có tính chất báo chí của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở đăng đường dẫn truy cập tới nguồn tin báo chí hoặc trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin báo chí theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.

+ Tạp chí điện tử là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành, được truyền dẫn trên môi trường mạng.

+ Tạp chí khoa học là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ để công bố kết quả nghiên cứu khoa học, thông tin về hoạt động khoa học chuyên ngành.

+ Sản phẩm thông tin có tính chất báo chí là sản phẩm thông tin được thể hiện bằng các thể loại báo chí, được đăng trên bản tin, đặc san, trang thông tin điện tử tổng hợp của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp...

5. Quyền và nghĩa vụ của báo chí

Báo chí của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân.

Theo đó, Báo chí có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a.Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân;

b. Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, Mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

c. Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân;

d. Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội;

đ. Góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số Việt Nam;

e. Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Phân tích)