Luật khuyến khích đầu tư trong nước là văn bản luật chứa đựng có hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về khuyến khích đầu tư trong nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo pháp luật Việt Nam.

Luật khuyến khích đầu tư trong nước được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá X, kì họp thứ 3 thông qua ngày 20.5.1998, thay thế Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01.01.1999.

Phạm vi điều chỉnh của Luật là các hoạt động đầu tư, thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế; xây dựng dây chuyển sản xuất, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, di chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi đô thị, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đa dạng hoá ngành nghề, sản phẩm; mua cổ phần các doanh nghiệp, góp vốn vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; đầu tư theo các hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, xây dựng - chuyển: giao - kinh doanh hoặc xây dựng - chuyển giao.

Đối tượng áp dụng là các nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam muốn thực hiện việc đầu tư theo quy định của Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định những trường hợp cụ thể cho phép nhà đầu tư là người nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam với mức không quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp.

Luật khuyến khích đầu tư trong nước lần đầu được ban hành vào năm 1994 đã khuyến khích và thúc đẩy kịp thời các hoạt động đầu tư trong nước, phát huy nội lực trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 4 (Khoá VIII) với tỉnh thần huy động mọi nguồn lực, đặc biệt, phát huy cao độ các nguồn lực trong nước, hiện đại hoá đất nước, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, khuyến khích mạnh mẽ tất cả các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế đất nước.

Năm 1998, Luật khuyến khích đầu tư mới được ban hành, thay thế Luật khuyến khích đầu tư trong nước ban hành năm 1994 nhằm tạo cơ sở pháp lí thúc đẩy các hoạt động đầu tư của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 gồm 7 chương với 44 điều. Chương I - Những quy định chung, gồm 5 điều, quy định nguyên tắc Nhà nước bảo hộ, khuyến khích, đối xử bình đẳng và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo pháp luật Việt Nam; giải thích các thuật ngữ, quy định phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; các quy đinh về góp vốn... Chương II - Bảo đảm và hỗ trợ đầu tư, gồm 9 điều, quy định về việc Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyến lợi hợp pháp khác của nhà đầu tư, Nhà nước thực hiện hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng cho các nhà đầu tư, khuyến khích các hoạt động hỗ trợ đầu tư. Chương IIl - Ưu đãi đầu tư, gồm 15 điều, quy định về các chính sách ưu đãi đầu tư của Nhà nước Việt Nam đối với các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư khi thực hiện các dự án đầu tư trong nước được mở rộng phạm vi đầu tư, được giảm 50 - 75% tiền sử dụng đất tuỳ theo từng trường hợp và địa bàn đầu tư, được giảm thuế, được vay vốn và bảo lãnh vay vốn... Chương IV - Quyển và nghĩa vụ của nhà đầu tư, gồm 5 điều, trong đó xác định rõ quyển và nghĩa vụ cụ thể của nhà đầu tư. Chương V - Quản lí nhà nước về khuyến khích đầu tư trong nước, gồm 4 điều, xác định rõ thẩm quyền của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chính quyền địa phương (Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) về quản lí nhà nước; thanh tra, kiểm tra các hoạt động đầu tư, các dự án đầu tư trong nước. Chương VI - Khen thưởng và xử lí vi phạm, gồm 3 điều và Chương VII - Điều khoản thi hành, gồm 3 điều. So với Luật được ban hành năm 1994, Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 đã được mở rộng hơn về hình thức (tăng 20 điều) và nội dung, thể hiện ở phạm vi điều chỉnh của Luật, hình thức đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu được khuyến khích, các hoạt động đầu tư được bố sung thêm bao gồm: đầu tư xây dựng dây chuyển sản xuất, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, di chuyển š cơ sở sản xuất ra khỏi đô thị, nâng cao năng lực sản '”” xuất, kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đa dạng hoá ngành nghề, sản phẩm. Các bảo đảm và hỗ trợ đầu tư, các ưu đãi đầu tư cũng được Nhà nước tăng cường. Đặc biệt là về thủ tục hành chính đã được đơn giản hoá tới mức tối thiểu nhằm tạo điều kiện và khuyến khích các nhà đầu tư khi được hưởng ưu đãi đầu tư. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc đầu tư, cho hưởng ưu đãi đầu tư không đúng quy định, có hành vi sách nhiễu, gây phiển hà đối với nhà đầu tư đều bị xử lí theo pháp luật.

Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, ngày 28.11.2005 Quốc hội thông qua Luật đầu tư năm 2005. Luật này quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lí nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài.

Đối tượng áp dụng của Luật này là nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư Việt Nam ra ngước ngoài; tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư.

Luật này gồm 10 chương với 89 điều, và có hiệu lực từ ngày 01.07.2006.