1. Thế nào là xúc phạm danh dự?
Hiện nay, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Tuy nhiên, xúc phạm danh dự, nhân phẩm có thể được hiểu là sử dụng lời lẽ thô bỉ, tục tĩu để nhục mạ và làm hại danh dự, nhân phẩm của người khác, gây thiệt hại về uy tín. Vi phạm này có thể bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Trong thực tế, xúc phạm danh dự, nhân phẩm là hành vi sử dụng lời nói mang tính sỉ nhục, thô bỉ, nhục mạ nhằm hạ thấp và đè nén giá trị của người khác, gây tổn hại đến uy tín và danh dự của họ.
Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm có thể được chia thành hai trường hợp:
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm bằng lời nói: Người thực hiện hành vi này cố ý sử dụng lời nói không hay, thô bỉ, tục tĩu để miệt thị, lăng mạ và hạ thấp danh dự, uy tín của người khác.
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm bằng hành động: Người thực hiện hành động vượt quá mức chấp nhận được, có tính chất văn hóa với mục đích hạ thấp và phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.
Danh dự, nhân phẩm của cá nhân được quy định tại Điều 34 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Danh dự, nhân phẩm của cá nhân là không thể xâm phạm và được bảo vệ bởi pháp luật. Vì vậy, không ai có quyền xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án từ chối thông tin xấu làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của mình. Hơn nữa, cá nhân cũng có thể yêu cầu người đưa thông tin xin lỗi, sửa chữa công khai và bồi thường thiệt hại.
Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác là vi phạm pháp luật. Tùy thuộc vào hành vi và mức độ nghiêm trọng, vi phạm này có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng.
2. Những điều nghiêm cấm đối với luật sư
Trong tổng thể các mối quan hệ giữa luật sư và các chủ thể khác trong ngành luật, quan hệ giữa luật sư và khách hàng là mối quan hệ cơ bản tạo nên các quan hệ khác. Pháp luật xác định quan hệ giữa luật sư và khách hàng là một loại quan hệ dân sự, cụ thể là quan hệ hợp đồng dịch vụ chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Trong quan hệ này, quyền và nghĩa vụ của luật sư đối với khách hàng được thiết lập dựa trên sự đồng ý tự nguyện của hai bên. Tuy nhiên, vì là loại quan hệ dịch vụ pháp lý, nó cũng tuân theo các quy phạm pháp luật khác trong hệ thống luật sư.
Danh dự, uy tín và thái độ tích cực hoặc tiêu cực trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư liên quan mật thiết đến quan hệ này. Do đó, tính đạo đức trong hành vi và cách ứng xử của luật sư có thể coi là bản chất của quan hệ giữa luật sư và khách hàng, là một trong những yếu tố quyết định thành công trong sự nghiệp luật sư.
Theo Điều 9, Khoản 1 của Luật luật sư năm 2006, đã được sửa đổi bởi Khoản 3, Điều 1 của Luật luật sư sửa đổi năm 2012, các hành vi sau đây bị nghiêm cấm đối với luật sư:
- Cung cấp dịch vụ pháp lý cho các khách hàng có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ án hoặc việc dân sự, hình sự, hành chính hoặc việc dân sự khác theo quy định của pháp luật.
- Cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu hoặc chứng cứ giả, truyền thông tin sai lệch; xúi giục người bị tạm giam, bị cáo, bị can, hoặc bị đưa ra xét xử khai báo sai sự thật; hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo hoặc khiếu kiện trái với pháp luật.
- Tiết lộ thông tin về vụ án hoặc việc dân sự, cũng như thông tin về khách hàng mà luật sư biết được trong quá trình làm việc, trừ khi được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc có quy định khác của pháp luật.
- Lừa dối hoặc gian lận khách hàng.
- Nhận hoặc yêu cầu bất kỳ khoản tiền hay lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài phí dịch vụ và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.
- Thiết lập mối quan hệ hoặc liên hệ với người thực hiện vụ án hoặc việc dân sự, hoặc với các cán bộ, công chức, viên chức khác nhằm vi phạm quy định pháp luật trong việc giải quyết vụ án hoặc việc dân sự.
- Lợi dụng việc làm luật sư hoặc danh nghĩa luật sư để tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng, an toàn xã hội, hoặc xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
- Nhận hoặc yêu cầu bất kỳ khoản tiền hay lợi ích nào khi cung cấp trợ giúp pháp lý cho các khách hàng thuộc đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; từ chối vụ án hoặc việc dân sự đã được nhận trách nhiệm theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý hoặc các cơ quan tham gia xét xử, trừ trường hợp khả năng khác biệt không thể tránh được hoặc theo quy định của pháp luật.
- Sử dụng lời lẽ hoặc hành vi xúc phạm đối với cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức trong quá trình tham gia vào việc giải quyết vụ án hoặc việc dân sự.
- Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện các hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của các cơ quan tham gia xét xử và các cơ quan nhà nước khác.
Quy định về xử lý vi phạm đối với luật sư được miêu tả trong Điều 89 của Luật luật sư năm 2006, đã được sửa đổi bởi Khoản 33, Điều 1 của Luật Luật sư sửa đổi năm 2012, như sau:
Đối với luật sư Việt Nam vi phạm quy định của Luật này, ngoài việc bị xử lý kỷ luật, còn tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm, có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại, luật sư cần phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Đối với luật sư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam vi phạm quy định của Luật này, cũng tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm, có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại, luật sư cần phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Nếu luật sư nước ngoài vi phạm Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư Việt Nam, Bộ Tư pháp sẽ thông báo cho tổ chức luật sư nước ngoài đã phê chuẩn luật sư đó để hoạt động tại Việt Nam hoặc cho tổ chức luật sư Việt Nam đã tuyển dụng luật sư đó. Tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm, Giấy phép hành nghề luật sư của luật sư nước ngoài có thể bị thu hồi hoặc xem xét không gia hạn.
Do đó, trong quá trình tư vấn hoặc cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, nếu luật sư tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như xúc phạm danh dự người khác, sử dụng lời lẽ hoặc hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng, đều là những vi phạm cấm đối với luật sư và sẽ chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm, luật sư có thể bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự nếu gây thiệt hại.
3. Luật sư tư vấn cho khách hàng có xúc phạm danh dự có phải là đồng phạm trong vụ án hình sự ?
Theo Điều 17 Khoản 1 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng phạm được xác định bởi các dấu hiệu sau đây: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm, đây là hình thức phạm tội cố ý khác với hình thức phạm tội riêng lẻ.
Để xem xét đồng phạm, hai điều kiện cần phải thỏa mãn là:
- Sự tham gia của hai người trở lên, trong đó cả hai đều có điều kiện là chủ thể của tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự (bao gồm năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự). Trong trường hợp tội phạm có chủ thể đặc biệt, chỉ người thực hành cần đáp ứng dấu hiệu chủ thể đặc biệt.
- Sự cố ý cùng thực hiện tội phạm, tức là mỗi người tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi sau:
- Thực hiện tội phạm: người này được gọi là người thực hành.
- Tổ chức thực hiện tội phạm: người này được gọi là người tổ chức.
- Xúi giục người khác thực hiện tội phạm: người này được gọi là người xúi giục.
- Giúp sức người khác thực hiện tội phạm: người này được gọi là người giúp sức.
Nếu không có ít nhất một trong những hành vi này, không thể coi là cùng thực hiện tội phạm và không được coi là đồng phạm.
Những người đồng phạm đều có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và hành vi của mỗi người đóng góp vào hoạt động chung. Có thể tất cả những người đồng phạm trực tiếp thực hiện tội phạm, hoặc chỉ một số người trực tiếp thực hiện còn những người khác chỉ có vai trò góp phần vào việc thực hiện tội phạm. Hậu quả thiệt hại của tội phạm là kết quả của hoạt động của tất cả những người đồng phạm. Mỗi hành vi của từng người đều có liên quan nhân quả với hậu quả thiệt hại của tội phạm. Hành vi của người thực hành là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả, trong khi hành vi của người tổ chức, xúi giục hay giúp sức góp phần vào hậu quả thông qua hành vi của người thực hành. Khi thực hiện hành vi vi phạm, mỗi người đều nhận thức rằng hành vi của mình gây thiệt hại cho xã hội và biết rằng người khác cũng có hành vi tương tự. Nếu một người chỉ biết rằng hành vi của chính mình gây thiệt hại mà không biết rằng người khác cũng có hành vi như vậy, thì không đáp ứng được dấu hiệu cố ý trong đồng phạm và không được coi là đồng phạm theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, trong trường hợp luật sư cùng khách hàng cố ý cùng thực hiện một tội phạm làm nhục người khác trong quá trình tư vấn hoặc cung cấp dịch vụ pháp lý, chỉ khi luật sư và khách hàng cùng nhằm mục đích xúc phạm danh dự người khác và khi thực hiện hành vi vi phạm, cả hai đều nhận thức rằng hành vi của mình gây thiệt hại cho xã hội và biết rằng người khác cũng có hành vi tương tự, lúc này mới được coi là đồng phạm của nhau.
Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc cùng tham khảo bài viết sau đây: Dịch vụ luật sư bào chữa, tranh tụng tại tòa án uy tín hàng đầu Việt Nam
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Luật sư tư vấn cho khách hàng có xúc phạm danh dự có phải là đồng phạm trong vụ án hình sự? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.