1. Khái niệm luật thuế lợi tức

Luật thuế lợi tức là đạo luật quy định việc thu, nộp thuế lợi tức đối với tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có lợi tức từ các hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ và hoạt động kinh doanh khác trên lãnh thổ Việt Nam, được Quốc hội Khoá VIIl, kì họp thứ 7 thông qua ngày 30.6.1990, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01.10.1990.

Phạm vi điều chỉnh của Luật thuế lợi tức năm 1990 là quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân có lợi tức từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam. Luật gồm Lời nói đầu, 8 chương với 40 điều và có những nội dung cơ bản sau: 1) Quy định tổ chức, cá nhân có lợi tức hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế, 2) Quy định lợi tức chịu thuế, biểu thuế, kê khai, nộp thuế; 3) Quy định miễn, giảm thuế lợi tức; 4) Quy định xử lí vi phạm, khen thưởng; khiếu nại, thời hiệu; 5) Tổ chức thực hiện.

Luật thuế lợi tức năm 1990 là văn bản luật đầu tiên ở Việt Nam quy định áp dụng thu thuế lợi tức chung cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế trong nước. Luật có một số hạn chế như chỉ áp dụng đối với cơ sở kinh doanh trong nước, không áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; mức thu thuế quá cao (mức thấp nhất là 30%, mức cao nhất là 50%) và có sự phân biệt giữa các ngành, nghề kinh doanh; phạm vi áp dụng hẹp; tên thuế lợi tức không tương thích với tính chất thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất, kinh doanh. Những hạn chế này của Luật thuế lợi tức năm 1990 được từng bước sửa đổi, bổ sung bằng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế lợi tức được thông qua năm 1993 và cuối cùng được bãi bỏ, thay thế bằng các luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 và năm 2003.

 

2. Đối tượng nộp thuế lợi tức

Đối tượng nộp thuế lợi tức là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam (gọi chung là cơ sở kinh doanh) được quy định tại Điều 1 Luật thuế lợi tức bao gồm:

- Các xí nghiệp quốc doanh hạch toán kinh tế độc lập;

- Các đơn vị sự nghiệp, văn hoá, y tế, giáo dục và sự nghiệp khác hoạt động theo mọi phương thức kinh doanh thuộc tất cả các ngành, các tổ chức kinh tế của Đảng, đoàn thể, lực lượng vũ trang;

- Công tư hợp doanh, tổ chức liên doanh liên kết kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế;

- Các tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã, tổ hợp tác;

- Cá nhân kinh doanh: Xí nghiệp tư doanh, hộ cá thể;

- Trường hợp cơ sở kinh doanh khoán cho cá nhân dưới hình thức phải nộp một số tiền cho cơ sở kinh doanh, thì cá nhân nhận khoán phải nộp thuế doanh thu, thuế lợi tức theo quy định đối với cá nhân kinh doanh. Khoản nộp của cá nhân cho cơ sở kinh doanh được coi là khoản lợi tức khác và cơ sở kinh doanh phải cộng thêm vào lợi tức chịu thuế của cơ sở để tính nộp thuế lợi tức.

Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định tại Điều 2 Luật thuế lợi tức, không thuộc diện chịu thuế lợi tức bao gồm:

- Các tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nộp thuế lợi tức theo quy định tại Điều 26 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

- Các tổ chức cá nhân có hoạt động sản xuất nông nghiệp nộp thuế nông nghiệp theo quy định tại Pháp lệnh thuế nông nghiệp ban hành ngày 25-02-1983 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung Pháp lệnh thuế nông nghiệp, ban hành ngày 30-01-1989.

 

3. Giảm, miễn thuế lợi tức

Các cơ sở kinh doanh muốn xin giảm, miễn thuế lợi tức phải có đơn đề nghị gửi đến cơ quan thuế trực tiếp thu thuế theo mẫu quy định của Bộ Tài chính (phụ lục số 3).

Cơ quan thuế có trách nhiệm kiểm tra, xem xét, quyết định miễn giảm thuế thuộc 2 thẩm quyền hoặc có ý kiến bằng văn bản kèm theo đơn xin giảm, miễn thuế của cơ sở và gửi lên cơ quan thuế cấp trên xem xét quyết định theo thẩm quyền.

Việc giảm, miễn thuế lợi tức đối với các cơ sở kinh doanh được thực hiện theo quy đinh tại Điều 12 Nghị định 353-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, cụ thể là:

1. Những trường hợp được miễn thuế lợi tức:

a) Những người già yếu, tàn tật hoặc người kinh doanh lặt vặt có thu nhập hàng tháng dưới mức lương và phụ cấp tối thiểu của cán bộ công nhân viên chức Nhà nước;

b) Các hoạt động vận tải bằng phương tiện thô sơ ở miền núi như xe đạp, xe thồ, xe ba gác, xe súc vật kéo.

c) Các cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm từ miền xuôi lên miền núi thì được miễn thuế lợi tức một năm đầu kể từ tháng bắt đầu hoạt động kinh doanh. Năm thứ 2 và thứ 3 tiếp theo, nếu kinh doanh còn gặp khó khăn như: thiếu vốn kinh doanh, cần phải đầu tư thêm để ổn định mới sản xuất kinh doanh... sẽ được xét miễn thuế lợi tức;

đ) Các hoạt động sản xuất và dịch vụ sản xuất thuộc kinh tế gia đình phải bảo đảm có đủ các điều kiện sau đây:

- Những người làm kinh tế gia đình phải là công nhân viên chức tại chức, xã viên hợp tác xã làm thêm ngoài giờ quy định của cơ quan, xí nghiệp, đơn vị tập thể;

- Những người làm cùng phải là bố, mẹ, vợ chồng và các con ngoài độ tuổi lao động, nếu là người thân thì phải ngoài độ tuổi lao động và có tên trong hộ khẩu gia đình;

- Hoạt động sản xuất, dịch vụ sản xuất của người về hưu nếu không thuộc kinh tế cá thể, tư nhân cũng được coi là kinh tế gia đình.

Trường hợp có 1 người trở lên trong độ tuổi lao động không phải là công nhân viên chức Nhà nước hay xã viên hợp tác xã, chuyên làm trong hộ kinh tế gia đình đã có 3 năm thì phải chuyển sang đăng ký hộ cá thể kinh doanh.

Thẩm quyền xét miễn thuế lợi tức trong các trường hợp nêu trên do cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế quyết định.

2. Cơ sở kinh doanh có khó khăn do thiên tại, địch hoạ, tại nạn bất ngờ được xét giảm thuế lợi tức như sau:

- Nếu thiệt hại từ 20% đến 50% doanh thu chịu thuế thì do cơ quan thuế tỉnh hoặc cấp tương đương quyết định giảm thuế lợi tức theo tỷ lệ tương ứng.

- Nếu thiệt hại trên 50% doanh thu chịu thuế thì do Tổng cục thuế Nhà nước quyết định giảm hoặc miễn thuế.

3. Các tổ chức, cá nhân ở miền núi và một số ngành nghề cần khuyến khích đầu tư, nếu sau khi đã dùng hết các nguồn vốn tự có của cơ sở kinh doanh (vốn đầu tư XDCB, quỹ xí nghiệp...) mà còn phải dùng đến lợi nhuận thu được trong năm để tái đầu tư thì được giảm thuế lợi tức. Tỷ lệ giảm thuế bằng tỷ lệ số tiền đã chỉ về tái đầu tư bằng nguồn lợi nhuận so với lợi tức chịu thuế trong năm, nhưng mức giảm tối đa không quá 50% số thuế lợi tức phải nộp trong năm.

Thí dụ: Trong năm cơ sở kinh doanh phải đầu tư mua sắm TSCĐ mới với giá trị là: 50 triệu đồng. Vốn tự có về đầu tư XDCB và quỹ khuyến khích phát triển sản xuất của cơ sở hiện có là: 20 triệu đồng. Lợi tức chịu thuế cả năm của cơ sở là 200 triệu đồng.

Mức giảm thuế lợi tức tính như sau:

- Thuế lợi tức phải nộp theo đúng chế độ là: - (giả sử thuế suất: 40%). 200 triệu x 40% = 80 triệu đồng.

- Chi về đầu tư mua sắm TSCĐ bằng nguồn lợi nhuận là: 50 triêu - 20 triệu = 30 triệu.

- Tỷ lệ chi về đầu tư bằng nguồn lợi nhuận so với lợi tức chịu thuế cả năm:

30 triệu

x 100 = 15 %

200 triệu

- Tỷ lệ giảm thuế lợi tức phải nộp là: 15%

- Thuế lợi tức còn phải nộp là:

80 triệu - (80 triệu x 15%) = 68 triệu

4. Các tổ chức kinh doanh mới thành lập ở miền núi và một số ngành nghề cần khuyến khích đầu tư, nếu năm đầu kinh doanh bị lỗ thì được chuyển số lỗ kinh doanh sang năm kế tiếp để trừ vào lợi tức chịu thuế trước khi tính thuế lợi tức.

5. Đối với xí nghiệp quốc doanh, trước mắt nếu phần lợi nhuận để lại cho xí nghiệp sau khi tính thuế lợi tức mà không bào đảm mức tối thiểu để trích lập 2 quỹ khen thưởng và phúc lợi theo quy định của Nhà nước thì được xét giảm thuế lợi tức.

Thẩm quyền xét giảm thuế lợi tức theo các điểm 3, 4, 5, ở phần IV của Thông tư này do Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) quyết định.

Việc xét giảm, miễn thuế lợi tức được xem xét và quyết định vào cuối năm sau khi cơ sở kinh doanh có báo cáo quyết toán chính thức gửi đến cơ quan trực tiếp quản lý thu thuế.

Nếu trong năm có nhiều trường hợp xin giảm thuế lợi tức thì số thuế lợi tức làm căn cứ xét giảm của mỗi lần sẽ là số thuế lợi tức phải nộp đủ trừ đi số thuế lợi tức giảm của lần trước.

 

4. Nguyên tắc tính các khoản chi phí hợp lệ, hợp lý để trừ thuế lợi tức

Các khoản chi phí hợp lệ, hợp lý được trừ để tính lợi tức chịu thuế quy định theo các nguyên tắc sau đây:

1- Tài sản cố định sử dụng cho hoạt động kinh doanh phải trích khấu hao và chi phí kinh doanh. Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định phản ánh đúng mức độ hao mòn thực tế tài sản cố định trong điều kiện sản xuất bình thường, được áp dụng thống nhất theo chế độ quy định của Nhà nước;

2- Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng thực tế sử dụng vào sản xuất kinh doanh liên quan đến lợi tức chịu thuế phát sinh, được tính theo mức tiêu hao hợp lý và giá thực tế xuất kho của cơ sở;

3- Tiền lương, tiền công, các khoản mang tính chất tiền lương phải trả được căn cứ vào tính chất ngành nghề, định mức tiền lương, tiền công trong đơn vị sản phẩm theo năng suất lao động xã hội, hiệu quả kinh tế và tương quan hợp lý giữa các ngành nghề thuộc mọi thành phần kinh tế;

Đối với hộ tư nhân kinh doanh, tiền công, tiền lương trả cho chủ hộ kinh doanh quy định tại điểm 3, Điều này không tính là chi phí được trừ để xác định lợi tức chịu thuế;

4- Các khoản chi phí khác được công nhận hợp lệ, hợp lý:

a) Chi phí quản lý;

b) Các khoản chi về mua hoặc chi trả tiền sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép công nghệ và các dịch vụ kỹ thuật;

c) Các khoản chi liên quan trực tiếp đến việc tiêu thụ sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ;

d) Các khoản tiền nộp quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tài sản cơ sở;

e) Các chi phí hợp lệ, hợp lý khác;

5- Các khoản thuế, lệ phí đã nộp có liên quan đến hoạt động kinh doanh, trừ thuế lợi tức;

6- Không được trừ vào chi phí sản xuất kinh doanh các khoản tiền phạt và các khoản chi không đúng chế độ quy định của Nhà nước.

Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết các chi phí sản xuất kinh doanh hợp lệ, hợp lý được trừ để xác định lợi tức chịu thuế theo các nguyên tắc quy định tại Điều này.

 

5. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế

Cơ quan thuế có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1- Hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc các cơ sở kinh doanh thực hiện nghiêm chỉnh chế độ sổ sách kế toán, chứng từ, hoá đơn và thủ tục kê khai, nộp thuế lợi tức;

2- Kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh để tính thuế lợi tức;

3- Trong trường hợp cần thiết, yêu cầu mọi tổ chức, cá nhân cung cấp các tài liệu có liên quan đến việc tính thuế, nộp thuế lợi tức;

4- Tính thuế, lập sổ thuế, duyệt sổ thuế và thông báo số thuế lợi tức phải nộp vào kho bạc Nhà nước. Khi thu thuế, cơ quan thu thuế phải cấp biên lai nộp thuế do Bộ tài chính phát hành;

5- Lập biên bản và xử phạt hành chính theo thẩm quyền hoặc đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các vi phạm Luật thuế lợi tức;

6- Xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế lợi tức.