Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp là đạo luật quy định chế độ thu, nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp, được Quốc hội Khoá IX, kì họp thứ 3 thông qua ngày 10.7.1993, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.1994.

Mục tiêu của việc ban hành Luật là khuyến khích sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả, thực hiện công bằng, hợp lí sự đóng góp của tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vào ngân sách nhà nước.

Phạm vi điều chỉnh của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp là quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước và tổ chức, cá nhân sử dụng đất sản xuất nông nghiệp.

Sau Cách mạng tháng Tám, Điều lệ thuế nông nghiệp được ban hành theo Sắc lệnh số 131/SL ngày 11.5.1951, sau đó được sửa đổi, bổ sung bằng nhiều văn bản pháp luật nhưng về bản chất, thuế nông nghiệp là thuế thu vào hoa lợi của việc sử dụng đất nông nghiệp. Năm 1983, Hội đồng Nhà nước (theo quy định của Hiến pháp năm1980) ban hành Pháp lệnh thuế nông nghiệp. Theo Pháp lệnh này, thuế nông nghiệp vừa mang đặc tính của thuế đất, vừa mang đặc tính của thuế đối với hoa lợi của việc sử dụng đất nông nghiệp.

Đặc trưng của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 1993 là Nhà nước quy định thu thuế không phụ thuộc vào kết quả thực tế sử dụng đất của người nộp thuế. Luật này gồm Lời nói đầu, 9 chương với 39 điều và có những nội dung cơ bản như sau: 1) Quy định đối tượng nộp thuế đất thuộc diện chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp; 2) Quy định căn cứ tính thuế; kê khai, tính thuế và lập sổ thuế; thu, nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp; 3) Quy định giảm thuế, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp; 4) Quy định xử lí vi phạm, khiếu nại và thời hiệu.

Luật thể hiện rất rõ chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện sản xuất còn lạc hậu, đời sống của nông dân còn thấp kém. Điều đó thể hiện ở chính sách miễn, giảm thuế trên diện rộng (miễn, giảm cho trường hợp gặp thiên tai, địch hoạ; cho nông dân vùng sâu, vùng xa đời sống khó khăn; đổi tượng chính sách....).