Luật tổ chức chính phủ là đạo luật quy định tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, đồng thời quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, các Thứ trưởng được Quốc hội Khoá X, kì họp thứ 10 thông qua ngày 25.12.2001.

Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ lần đầu tiên được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Khoá II, kì họp thứ nhất thông qua ngày 14.7.1960, Văn bản này đã thể chế hoá các quy định về Hội đồng Chính phủ trong Hiến pháp năm 1959 như thành phần, cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Chính phủ và các thành viên của Hôi đồng Chính phủ.

Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội thì Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ năm 1960 được sửa đổi, thay thế bằng Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng năm 1981 cho phù hợp với Hiến pháp năm 1980, đáp ứng tình hình thực tế lúc bấy giờ. Luật này quy định cơ cấu tổ chức bộ máy, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Bộ trưởng, các thành viên Hội đồng Bộ trưởng và các cơ quan trực thuộc. Đến năm 1992, Luật này được tiếp tục sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới. Theo Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng lại được đổi lại tên gọi là Chính phủ với cơ cấu của Chính phủ bao gồm các bộ và các cơ quan ngang bộ do Quốc hội quyết định. Thành phần của Chính phủ gồm có: Thủ tướng Chính phủ; các Phó Thủ tướng; các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng lãnh đạo và điều hành hoạt động của Chính phủ. Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uÿ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chính phủ tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Qua 10 năm thực hiện, trước yêu cầu của công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia, Luật tổ chức Chính phủ năm 1992 đã được thay thế bởi Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 trên cơ sở kế thừa các Luật năm 1960, 1981, 1992.

Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 được ban hành nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Chính phủ cho phù hợp với những sửa đổi, bổ sung của Hiến pháp năm 1992 cũng như phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong thời kì mới. Việc ban hành Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 còn nhằm kiện toàn chế độ pháp lí về tổ chức, hoạt động của các chế định để cấu thành nên Chín Phủ đó là: Thủ Tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các Thứ trưởng.

Tương ứng với các mục tiêu đó, đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 được xác định là những quan hệ về tổ chức, hoạt động của Chính phủ và các bộ phận hợp thành. Trong đó, Luật đặc biệt nhấn mạnh và khẳng định trước hết là vị trí, chức năng, tính chất hoạt động của Chính phủ trong tổ chức bộ máy nhà nước, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn, chế độ hoạt động của Chính phủ, các bộ, ngành, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các Thứ trưởng.

Về cơ cấu, Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 có 6 chương, 43 điều với những nội dung cơ bản như sau: những quy định chung; nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ; nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ; quy định về các bộ và các cơ quan ngang bộ; quy định về chế độ làm việc và quan hệ công tác của Chính phủ.

Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 quy định: Chính phủ làm việc theo chế độ kết hợp trách nhiệm của tập thể với việc để cao quyền hạn và trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng và của mỗi thành viên Chính phủ.

Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ. Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.