Luật tổ chức Quốc Hội là đạo luật quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, về nhiệm vụ, quyền hạn của các đại biểu Quốc hội của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 được Quốc hội Khoá X, kì họp thứ 10 thông qua ngày 25.12.2001, Chủ tịch nước công bố ngày 07.01.2002.

Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh số 14/SL ngày 08.9.1945 tổ chức cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước để bầu ra Quốc dân đại hội hội đầu tiên của nước ta.

Văn bản luật về tổ chức Quốc hội đầu tiên được ban hành vào ngày 14.7.1960, là sự cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1959 về cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động của Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Khi đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước gị lên chủ nghĩa xã hội, Luật tổ chức Quốc hội năm 1960 đã được thay thế bằng Luật tổ chức Quốc hội năm 1980 nhằm bảo đảm sự phù hợp với Hiến pháp năm 1980 và đòi hỏi của tình hình thực tế trong giai đoạn phát triển mới. Theo các quy định của Luật năm 1980, cơ cấu tổ chức của Quốc hội có sự thay đổi cơ bản. Quốc hội có Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội, có Hội đồng Nhà nước vừa là cơ quan cao nhất, là cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội, vừa là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một số thành viên của các Hội đồng, Uỷ ban của Quốc hội được phân công làm việc theo chế độ chuyên trách. Số lượng đại biểu quốc hệi không quá 400 người.

Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp của thời kì đổi mới, đã có sự thay đổi trong tổ chức bộ máy nhà nước, trong đó thiết chế Hội đồng Nhà nước theo Hiến pháp 1980, sau 12 năm thực hiện, tỏ ra không hoàn toàn thích hợp với bộ máy nhà nước của một Nhà nước dân chủ, đã được thay thế và thiết chế Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan thường trực của Quốc hội và chức danh Chủ tịch nước, người đứng đầu Nhà nước theo Hiến pháp năm 1959 đã được tái lập và để kịp thời thể chế hoá quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Quốc hội mới năm 1992 đã được Quốc hội thông qua.

Qua 10 năm thực hiện, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước và yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền, tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước đặc biệt là Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội mới năm 2001 đã được ban hành, có hiệu lực kể từ ngày 01.7.2002. Mục tiêu của việc ban hành Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 là nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Quốc hội, các bộ phận cấu thành nên Quốc hội như Uỷ ban thường vụ quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uÿ ban của Quốc hội cho phù hợp với những sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vào cuối năm 2001, cũng như phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong thời kì mới, nhằm kiện toàn chế độ pháp về tổ chức, hoạt động của các chế định pháp lí cụ thể để cấu thành nên cơ quan quyền lực nhà RưỜP cao nhất là đại biểu Quốc hội và Chủ tịch Quốc hôi Về đối tượng và phạm vi điều chỉnh, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 xác định những quan hệ về tổ chức, hoạt động của Quốc hội và các bộ phận hợp thành của Quốc hội. Trong đó, nhấn mạnh đặc biệt và khẳng định trước hết là vị trí, chức năng, tính chất của Quốc hội trong tổ chức bộ máy nhà nước. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ hoạt động của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, của Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban và đại biểu Quốc hội. Về cơ cấu, Luật tổ chức Quốc hội có 7 chương, 94 điều với những nội dung cơ bản như sau: những quy định chung; quy định về Uỷ ban thường vụ quốc hội và Chủ tịch quốc hội; quy định về Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; quy định về đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội: quy định về kì họp Quốc hội; quy định về bộ máy giúp việc và kinh phí hoạt động của Quốc hội.