Văn bản luật chứa đựng có hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh chế độ, hoạt động xuất bản ở Việt Nam, dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, bảo đảm quyền Sáng tạo và phổ biến tác phẩm của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - kinh tế - xã hội, lực lượng vũ trang qua hình thức xuất bản phẩm; tăng cường sự quản Ií của Nhà nước, phát huy vai trò của hoạt động xuất bản trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luật xuất bản được Quốc hội Khoá IX thông qua ngày 07.7.1993, Chủ tịch nước kí lệnh công bố ngày 19.7.1993, sau hơn 10 năm phát huy hiệu lực, đã được thay thế bởi Luật xuất bản được Quốc hội Khoá XI, kì họp thứ 6 thông qua ngày 03.12.2004. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật xuất bản năm 2004 là toàn bộ những vấn đề thuộc chế độ xuất bản và hoạt động xuất bản ở Việt Nam, gồm các lĩnh vực xuất bản, in ấn, phát hành xuất bản phẩm với các loại hình: sách, tài liệu, tranh, ảnh, áp phích, catalô, tờ rơi, tờ gấp, lịch, bản đồ, át lát, bản nhạc, cờ, truyền đơn, khẩu hiệu, câu đối, cuốn thư, băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình thay sách hoặc kèm theo sách. Tác giả có quyền phổ biến tác phẩm của mình thông.qua nhà xuất bản, được hưởng các quyền lợi về tỉnh thần và vật chất đối với tác phẩm theo quy định của Luật xuất bản, các quy định khác của pháp luật về quyền tác giả, được Nhà nước bảo hộ quyền tác giả. Đồng thời, tác giả phải chịu trách nhiệm về nội dung tác phẩm của mình trước pháp luật. Luật xuất bản cũng quy định quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức đối với hoạt động xuất bản; những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lí nhà nước về xuất bản; quyền và nghĩa vụ cúa Giám đốc, Tổng biên tập nhà xuất bản, tác giả, cơ quan chủ quản và cơ quan quản lí nhà nước về xuất bản, các cơ sở in, nhân bản, các tổ chức phát hành xuất bản phẩm. Không một tổ chức, cá nhân nào được cản trở quyền phổ biến tác phẩm, quyền hoạt động xuất bản hợp pháp của các nhà xuất bản; nghiêm cấm các hành vi lợi dụng quyền phổ biến tác phẩm, quyền hoạt động xuất bản làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân; nghiêm cấm việc phát hành những xuất bản phẩm đã có quyết định thu hồi, tịch thu hoặc cấm lưu hành.

Chế độ xuất bản ở nước ta lần đầu được pháp luật quy định tại Sắc luật số 003/SLT ngày 18.6.1957. Cho đến thời kì đổi mới, nhằm phát huy vai trò của hoạt động xuất bản trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tăng cường sự quản lí nhà nước đối với hoạt động xuất bản, bảo đảm cho các hoạt động xuất bản tiến hành đúng pháp luật, có kế hoạch, trật tự, ngăn chặn mọi tư tưởng, hành vị làm tốn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam.

Về bố cục và nội dung cơ bản, Luật xuất bản năm 2004 có Lời nói đầu, 6 chương và 45 điều, mỗi chương đều có tên gọi và các điều luật phản ánh những nội dung chính của chương đó. Chương ! - Những quy định chung (4 điều) xác định hoạt động xuất bản là hoạt động thuộc lĩnh Vực văn hoá, tư tưởng thông qua việc sản xuất, phổ biến những xuất bản phẩm đến nhiều người và không phải là hoạt động kinh doanh đơn thuần. Mục đích chủ yếu của hoạt động xuất bản là phổ biến những tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật; giới thiệu những di sản văn hoá dân tộc, tinh hoa văn hoá thế giới, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu đời sống tỉnh thần của nhân dân, mở rộng giao lưu văn hoá với các nước trên thế giới... Nhà nước thống nhất quản lí hoạt động xuất bản trong cả nước, có các biện pháp để bảo vệ hoạt động xuất bản đúng pháp luật.

Chương II quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức đối với hoạt động xuất bản. Công dân, tổ chức có quyền phổ biến tác phẩm dưới hình thức xuất bản phẩm thông qua nhà xuất bản, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xuất bản phẩm và được Nhà nước bảo hộ về quyền tác giả.

Chương III quy định về tổ chức và hoạt động xuất bản gồm 3 mục chính: xuất bản; in; phát hành xuất bản phẩm. Việc thành lập các nhà xuất bản phải tuân theo đúng thủ tục mà Luật xuất bản quy định khi đáp ứng các điều kiện nhất định. Nhà xuất bản thực hiện việc xuất bản, tái bản tác phẩm theo hợp đồng xuất bản đã kí kết với tác giả, đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích, không được xuất bản những xuất bản phẩm có nội dung bị pháp luật nghiêm cấm. Các cơ sở in, nhân bản chỉ được phép in, nhân bản xuất bản phẩm khi có giấy phép xuất bản hợp pháp và sau khi đã kí hợp đồng kinh tế với nhà xuất bản theo đúng quy định của pháp luật. Tổ chức phát hành của Nhà nước có trách nhiệm phát hành xuất bản phẩm của các nhà xuất bản tới người sử dụng. Tổ chức, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm chỉ được phép giấy phép của cơ quan quản lí nhà nước về xuất bản và hoàn thành các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Chương IV quy định về nội dung quản lí nhà nước về hoạt động xuất bản, gồm: cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước đối với hoạt động xuất bản trong cả nước là Bộ Văn hoá - Thông tin. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc quản lí nhà nước về hoạt động xuất bản ở địa phương. Bộ Văn hoá - Thông tin xây dựng hệ thống tổ chức thanh tra chuyên ngành về hoạt động xuất bản trong cả nước. Chương V quy định về khen thưởng và xử lí vi phạm. Các tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động xuất bản, in, phát hành sẽ được khen thưởng theo quy định của Nhà nước. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về xuất bản đều bị xử lí nghiêm minh, tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm mà áp dụng các chế tài kỉ luật, xử lí vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Chương VI quy định về điều khoản thi hành.