1. Khái niệm về mạng lưới được chia sẻ
Mạng lưới được chia sẻ là hệ thống nghiệp vụ ngân hàng điện tử, như mạng lưới máy rút tiền tự động, mở cho những khách hàng của bất cứ định chế tài chính trong vùng địa lý nào. Khác với mạng lưới có sở hữu chủ. Các quy tắc chia sẻ, phù hợp với các nguyên tắc của Bộ Tư pháp đối với các liên doanh EFT, phải cho phép sự tham gia của bất kỳ định chế tài chính nào muốn gia nhập.
1.1. Ngân hàng điện tử là gì?
Thuật ngữ Ngân hàng điện tử (e- banking) xuất hiện ở Việt Nam hơn một thập kỉ qua. Nhắc đến ngân hàng điện tử là nhắc tới loại hình dịch vụ tạo điều kiện cho khách hàng kiểm tra thông tin hoặc giao dịch bằng hình thức online thông qua tài khoản ngân hàng. Nhờ ngân hàng điện tử người dùng không cần phải đến trực tiếp chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng, dùng thẻ ATM để thực hiện giao dịch. Bạn chỉ cần truy cập dịch vụ e - banking qua internet hoặc kết nối với mạng viễn thông trên các thiết bị điện tử như điện thoại di động, laptop, ipap...
Hiện nay, việc sử dụng ngân hàng điện tử mang lại rất nhiều lợi ích:
Nhanh chóng thuận tiện. Đây cũng là những ưu điểm dễ dàng nhận thấy. Chính là sự tiện nghi và luôn luôn sẵn sàng 24/7 giao dịch cho bạn. E- banking hỗ trợ bạn liên hệ đến ngân hàng để thực hiện các giao dịch mọi thời điểm và mọi nơi chỉ cần kết nối E- banking và mạng internet.Thực hiện được nhiều giao dịch như đóng tiền điện thoại, điện nước sinh hoạt, chuyển khoản và nhiều dịch vụ khác.Tiết kiệm chi phí, doanh thu; Mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng; cung cấp các dịch vụ chọn gói;
Hạn chế của ngân hàng điện tử đối với khách hàng.
- Chất lượng dịch vụ còn chưa thực sự thỏa mãn được mong muốn của khách hàng. Nhất là với những khách hàng như gửi tiền mặt vào tài khoản và đăng ký còn phải tới trực tiếp giao dịch chi nhánh để thao tác.
- Chất lượng đường truyền mạng và tốc độ đường truyền hay bị lỗi, các kỹ thuật và thiết bị đầu cuối không được đảm bảo dẫn đến dịch vụ còn sai sót.
- Hệ thống ngân hàng điện tử phát triển một cách độc lập và chưa có một sự liên kết chặt chẽ. Quá trình sử dụng chữ ký điện tử, các chứng nhận điện tử chưa được phổ biến và chưa nắm được ưu thế so với chữ ký thông thường.
- Còn gặp rủi ro bởi tin nhắn rác tấn công và bị virus khiến nhiều khách hàng hoang mang và mất niềm tin vào dịch vụ
- Chất lượng dịch vụ của ngân hàng điện tử còn chưa thỏa mãn khách hàng ở những cấp độ cao hơn như việc gửi tiền mặt vào tài khoản, việc đăng ký sử dụng dịch vụ còn phải tới trực tiếp giao dịch tại chi nhánh ngân hàng.
- Chất lượng mạng, tốc độ đường truyền, lỗi kỹ thuật hoặc thiết bị đầu cuối không đảm bảo chất lượng dẫn tới chất lượng dịch vụ chưa cao.
- Hệ thống ngân hàng điện tử phát triển độc lập, chưa có sự liên kết chặt chẽ và bền vững.
Việc sử dụng chữ ký điện tử, chứng nhận điện tử chưa được phổ biến rộng rãi và chưa thể hiện được ưu thế so với chữ ký thông thường. - Ngoài những điều trên thì những rủi ro mới như tin tặc tấn công, virus máy tính… khiến khách hàng lo sợ và mất lòng tin vào dịch vụ.
Ngân hàng điện tử (E-Banking) là một dịch vụ cho phép người dùng kiểm tra thông tin hoặc thực hiện các giao dịch với tài khoản ngân hàng mà không cần tới quầy giao dịch cũng như ATM, có thể thông qua Internet hoặc kết nối mạng viễn thông.
Ngân hàng điện tử có những dịch vụ nào ?
Internet Banking là dịch vụ ngân hàng trực tuyến được thực hiện nhờ vào kết nối internet trên điện thoại thông minh, máy tính, máy tính bảng. Dịch vụ Internet Banking cho phép khách hàng truy cập trực tuyến vào hầu hết các dịch vụ phổ biến bao gồm truy vấn thông tin tài khoản, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn online,...
Ngân hàng di động (Mobile Banking) là dịch vụ ngân hàng cho phép người dùng thực hiện các giao dịch tài chính trên ứng dụng cài đặt trên thiết bị di động như điện thoại thông minh, máy tính bảng. Dịch vụ này cung cấp các tính năng như thông báo biến động số dư tài khoản, chuyển khoản, nạp tiền, thanh toán thẻ tín dụng,...
Mobile Banking được xem là phổ biến nhất trong các dịch vụ của ngân hàng điện tử bởi sự tiện lợi và tốc độ phát triển nhanh chóng của điện thoại thông minh.
Dịch vụ này cũng thuận tiện hơn Internet Banking vì khách hàng có xu hướng sử dụng điện thoại di động nhiều hơn, đồng thời dịch vụ cũng có nhiều tiện ích hỗ trợ giao dịch như quét camera để thanh toán QR; đăng nhập bằng vân tay hay Face ID; thông báo biến động số dư 24/7 bằng SMS hoặc ngay trên ứng dụng. Mobile Banking là một trong những dịch vụ ngân hàng điện tử tiện lợi nhất nhờ những tiện ích mà chỉ thiết bị di động mới hỗ trợ được.
SMS Banking là một dịch vụ ngân hàng được tiến hành thông qua tin nhắn SMS gửi về điện thoại di động của khách hàng. Dịch vụ này cho phép chủ thẻ thanh toán nhận tin nhắn về biến động số dư trên tài khoản.Ngoài ra, SMS Banking còn hỗ trợ bạn truy vấn thông tin, chuyển khoản, thanh toán và thực hiện một số giao dịch khác bằng cách soạn cú pháp tin nhắn theo quy định gửi đến tổng đài của ngân hàng.
Phone Banking cho phép khách hàng kiểm tra và thực hiện các thay đổi đối với tài khoản thông qua đầu số điện thoại cố định của ngân hàng. Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ bằng cách gọi lên số hotline của Trung tâm Chăm sóc khách hàng.Phone Banking đem đến một số tính năng phổ biến như truy vấn tài khoản, kê khai giao dịch, thanh toán, chuyển tiền, tư vấn dịch vụ, sản phẩm của ngân hàng và giải đáp thắc mắc, khiếu nại mà khách hàng đặt ra.
1.2. Máy rút tiền tự động là gì?
Máy rút tiền tự động hay máy giao dịch tự động (còn được gọi là ATM, viết tắt của Automated Teller Machine hoặc Automatic Teller Machine trong tiếng Anh) là một thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng, thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng) hay các thiết bị tương thích, và giúp khách hàng kiểm tra tài khoản, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ.
ATM được gọi bằng nhiều tên khác nhau, bao gồm cả máy tự động rút tiền (ATM) tại Hoa Kỳ [1][2][3] (đôi khi được gọi thừa chữ như "máy ATM"). Ở Canada, thuật ngữ máy ngân hàng tự động (ABM) cũng được sử dụng,[4][5] mặc dù ATM cũng được sử dụng rất phổ biến ở Canada, với nhiều tổ chức Canada sử dụng ATM thay vì ABM.[6][7][8] Trong tiếng Anh Anh, các thuật ngữ cashpoint, máy rút tiền và hole in the wall được sử dụng rộng rãi nhất.[9] Các cách khác bao gồm bany time money, cashline, tyme machine, cash dispenser, cash corner, bankomat. Nhiều máy ATM có bảng hiệu phía trên cho biết tên ngân hàng hoặc tổ chức sở hữu máy ATM và có thể bao gồm các mạng mà máy ATM có thể kết nối. Các máy ATM không được điều hành bởi một tổ chức tài chính được gọi là máy ATM "nhãn trắng".
Máy ATM gồm 02 loại chính:
Loại một, có chức năng rút tiền và truy vấn số dư
Loại thứ hai, tích hợp nhiều chức năng như thanh toán hóa đơn, chuyển tiền khác ngân hàng,… Riêng ngân hàng số Timo thì còn sử dụng loại máy ATM thông minh gọi là máy CDM có chức năng như một ngân hàng tự động, vừa có thể giao dịch như máy ATM mà còn có thể nạp tiền vào thẻ.
Lợi ích của thẻ ATM
- Việc thực hiện trả lương qua tài khoản cá nhân, giúp các cơ quan và doanh nghiệp (DN) tiết kiệm chi phí thời gian và giảm thiểu tối đa về rủi ro tiền mặt.
-Các DN còn có thể hưởng lợi từ các khoản tiền gửi tại ngân hàng dùng để trả lương cho cán bộ công nhân. Còn người được trả lương lại được hưởng lãi suất từ tài khoản tiền gửi.
- Thẻ ATM là một công cụ (rút tiền và thanh toán hàng hoá dịch vụ) an toàn, sinh lời và thuận tiện giúp chủ thẻ sử dụng số tiền của mình một cách khoa học
- Trả lương qua tài khoản, giúp minh bạch hoá thu nhập cá nhân và hoạt động của DN, là một công cụ hữu ích để hạn chế tình trạng tham nhũng; hạn chế lưu thông tiền mặt, giúp Nhà nước kiểm soát được lượng tiền trong lưu thông để thực thi hiệu quả các chính sách tài chính tiền tệ… Chính vì vậy, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc trả lương qua tài khoản cá nhân cho cán bộ công nhân viên hưởng lương từ ngân sách nhà nước được đông đảo người dân và doanh nghiệp ủng hộ.
2. Cách sử dụng mạng lưới được chia sẻ
Mạng lưới được chia sẻ là hệ thống nghiệp vụ ngân hàng điện tử, như mạng lưới máy rút tiền tự động, mở cho những khách hàng của bất cứ định chế tài chính trong vùng địa lý nào. Khác với mạng lưới có sở hữu chủ. Các quy tắc chia sẻ, phù hợp với các nguyên tắc của Bộ Tư pháp đối với các liên doanh EFT, phải cho phép sự tham gia của bất kỳ định chế tài chính nào muốn gia nhập. Vì vậy, khi bạn có nhu cầu muốn sử dụng mạng lưới được chia sẻ thì bạn sẽ phải liên hệ đến ngân hàng nơi cung cấp dịch vụ mạng lưới được chia sẻ. Mạng lưới được chia sẻ là nghiệp vụ ngân hàng điện tử được thể hiện qua các hoạt động: rút tiền tự động thông qua ATM, kiểm tra các thông tin online thông qua internet banking mà không cần phải đến ngân hàng mà các thao tác này được thực hiện qua các phương tiện điện tử như: điện thoại, máy tính...
Để sử dụng mạng lưới được chia sẻ thì khách hàng cần đăng kí dịch vụ ngân hàng điện tử, những dịch vụ này được cung cấp khi khách hàng có nhu cầu sử dụng các dịch vụ của ngân hàng điện tử. Vì mạng lưới chia sẻ là một trong những nghiệp vụ của ngân hàng điện tử. Khách hàng có thể đăng kí các dịch vụ như: rút tiền tự động qua ATM, internet banking, Ngân hàng di động (Mobile Banking), SMS Banking, Phone Banking
Ví dụ: khi bạn muốn sử dụng hoạt động rút tiền tự động qua ATM thì bạn cần làm gì ? Đầu tiên bạn phải liên hệ đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Sau khi bạn đã thực hiện các thủ tục, đáp ứng đủ các yêu cầu nơi cung ứng dịch vụ thì bạn sẽ được cung cấp dịch vụ đó. Để sử dụng được dịch vụ bạn phải đáp ứng các điều kiện cần và đủ như: phương tiện, nhu cầu...
3. Quy tắc cung cấp mạng lưới được chia sẻ.
Các quy tắc chia sẻ, phù hợp với các nguyên tắc của Bộ Tư pháp đối với các liên doanh EFT, phải cho phép sự tham gia của bất kỳ định chế tài chính nào muốn gia nhập. Để mạng lưới được chia sẻ đến tay người dùng thì phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành.
Mạng lưới được chia sẻ là nghiệp vụ ngân hàng điện tử mở cho những khách hàng thuộc bất kì chế định tài chính nào. Khi cung cấp mạng lưới thì người cung cấp cần xem xét đối tượng được cấp.