1. Máu là gì?
Máu là một mô lỏng, lưu thông trong hệ thống tuần hoàn của cơ thể. Máu chuyên chở O2 và CO2 trao đổi giữa phế nang và các tổ chức tế bào; vận chuyển đường, các axit amin, các axit béo, các vitamin... đến cung cấp cho các tổ chức tế bào. Máu lưu thông khắp cơ thể lấy những chất cặn bã chuyển hóa tế bào đưa đến các cơ quan bài xuất như thận, phổi, tuyến mồ hôi...
2. Máu gồm những thành phần nào?
Máu gồm hai thành phần chính: Các tế bào máu và huyết tương.
- Các tế bào máu:
- Hồng cầu: chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ). Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô và nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải. Vòng đời trung bình của hồng cầu là 120 ngày; hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở lách và gan. Tủy xương sẽ có nhiệm vụ sinh các hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu đã mất trong cơ thể.
- Bạch cầu: Có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách phát hiện và tiêu diệt các "nhân tố" gây bệnh. Có nhiều loại bạch cầu khác nhau với vòng đời từ một tuần đến vài tháng. Loại bạch cầu làm nhiệm vụ thực bào tức là " ăn" các "nhân tố" lạ, có loại làm nhiệm vụ "ghi nhớ" để nếu lần sau "nhân tố" lạ này xâm nhập sẽ bị phát hiện và cơ thể sẽ nhanh chóng sinh ra một lượng lớn bạch cầu tiêu diệt chúng. Cũng có loại bạch cầu tiết ra các kháng thể lưu hành trong máu để bảo vệ cơ thể ... Bạch cầu cũng được sinh ra tại tủy xương như hồng cầu. Không chỉ lưu hành chủ yếu trong máu, có một lượng khá lớn bạch cầu cư trú ở các mô của cơ thể để làm nhiệm vụ bảo vệ.
- Tiểu cầu: Là những mảnh tế bào rất nhỏ hỗ trợ chức năng cầm máu bằng cách nào tạo các cục máu đông bịt các vết thương ở thành mạch máu. Ngoài ra, tiểu cầu còn làm cho thành mạch mềm mại, dẻo dai nhờ chức năng tiểu cầu làm "trẻ hóa" tế bào nội mạc. Vòng đời của tiểu cầu khoảng 7 - 10 ngày. Cũng giống như hồng cầu và bạch cầu, tủy xương là nơi sinh ra tiểu cầu.
- Huyết tương: Đây là phần dung dịch có màu vàng, thành phần chủ yếu là nước; ngoài ra còn có các thành phần khác như: Đạm, mỡ, đường, vitamin, muối khoáng, các men... Huyết tương thay đổi thường xuyên theo tình trạng sinh lý trong cơ thể. Ví dụ sau bữa ăn huyết tương có màu đục và trở nên trong, màu vàng chanh sau khi ăn vài giờ. Nếu đơn vị máu có huyết tương "đục" sẽ không được sử dụng vì có thể gây sốc, gây dị ứng cho người bệnh.
Sự có mặt của những thành phần kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu và kháng thể trong huyết tương sẽ quyết định sự khác nhau hay giống nhau giữa các cá thể, nên sẽ quy định nhóm máu tương ứng.
3. Chức năng của máu
Máu có nhiều chức năng quan trọng mang tính sống còn đối với cơ thể.
Máu vận chuyển các phân tử: các phân tử glucose, acid amin, acid béo, các chất điện giải và nước được hấp thu từ ống tiêu hóa sẽ được máu vận chuyển cung cấp cho các mô khác. Máu lấy oxy từ phổi mang đến các mô, đồng thời lấy carbon monocid, sản phẩm của hô hấp tế bào đưa đến phổi để thải ra ngoài. Máu vận chuyển hormone và các chất dẫn tuyền từ nên sản xuất đến cơ quan đích.
Máu vận chuyển nhiệt: quá trình chuyển hóa trong cơ thể sản xuất ra một lượng nhiệt lớn, máu vận chuyển nhiệt từ các bộ phận sâu trong cơ thể đến da và đường hô hấp để khách tán nhiệt ra ngoài.
Máu giúp duy trì sự ổn định của pH và áp lực thẩm thấu của dịch ngoại bảo: dịch ngoại bảo trong cơ thể luôn được duy trì ổn định trong khoảng từ 7.35 đến 7.45 nhờ trong máu có các hệ thống đệm. Các hệ thống đệm này chuyển các acid, base mạnh thành các acid, base yếu hơn. Máu cũng vận chuyển các chất có tính acid và base mạnh đến các cơ quan bài tiết.
Các protein của huyết tương do không qua được thành mao dịch, tạo ra một áp suất thẩm thấu gọi là áp suất keo. Áp suất keo ảnh hưởng lớn đến áp lực thẩm thấu của dịch ngoại bào do đóng vai trò quan trọng trong sự vận động của nước giữa máu và dịch kẽ.
Máu có chức năng bảo vệ cơ thể do một số tế bào máu có khả năng thực bào, giúp tiêu hóa và khử độc các chất lạ, chất lạ và vi khuẩn. Một số tế bào máu có khả năng sinh kháng thể để trung hòa chất độc từ tác nhân lạ, trong khi một số tế bào khác và protein huyết tương có vai trò quan trọng trong quá trình cầm máu giúp bảo vệ cơ thể.
4. Phân loại máu
Hai hệ thống nhóm máu phổ biến và quan trọng nhất là hệ thống nhóm máu ABO và hệ thống nhóm máu Rh.
- Hệ thống nhóm máu ABO
Được tìm ra lần đầu tiên vào năm 1901 bởi Karl Landsteiner, ông phát hiện ra sự có mặt của các kháng nguyên A và B trên màng hồng cầu và các kháng thể tương ứng anti A và anti B trong huyết tương. Dựa vào sự có mặt hay vắng mặt của kháng nguyên A và B người ta phân ra 4 nhóm máu chính:
- Nhóm O: không có kháng nguyên A và B trên hồng cầu
- Nhóm B: có kháng nguyên B trên hồng cầu
- Nhóm AB: có cả kháng nguyên A và kháng nguyên B trên hồng cầu.
- Ở Việt Nam, nhóm máu O chiếm ưu thế với khoảng 45% dân số, tiếp theo là nhóm máu B chiếm 28,3% nhóm máu A chiếm 21,2% và nhóm máu AB chiếm 5,5%.
- Hệ thống nhóm máu Rh
Được tìm ra vào năm 1940 bởi Lansteiner và các cộng sự. Hầu hết các kháng nguyên Rh (được ký hiệu bằng các chữ C, D, E, c, d, e) là kháng nguyên yếu, trừ kháng nguyên D. Người có kháng nguyên D trên hồng cầu được gọi là người có Rh dương tính (Rh+), người không có kháng nguyên D trên hồng cầu được gọi là Rh âm tính (Rh-). Kháng thể anti D bình thường không có trong huyết tương của cả người Rh+ và Rh-. Khi tuyền máu Rh+ cho người Rh- thì người mang nhóm máu Rh- sẽ sản xuất ra kháng thể anti D, sự tạo thành kháng thể này xảy ra chậm và thường chỉ đạt nồng độ tối đa sau 2-4 tháng. Nếu những người Rh- này lần sau lại tiếp tục nhận máu Rh+ thì các kháng thể anti D có sẵn trong cơ thể họ sẽ làm ngưng kết hồng cầu, xảy ra hiện tượng truyền máu. Đây là một hiện tượng rất nguy hiểm, nguy cơ đe dọa tính mạng người bệnh. Ở người Việt Nam, tỉ lệ Rh+ là 99,92% do đó những tai biến do không hòa hợp của nhóm máu Rh là rất hiếm gặp.
5. Lượng máu trong cơ thể người bình thường
Lượng máu trong cơ thể người tương đối ổn định và phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi, giới, cân nặng... Lượng máu tỉ lệ thuận với trọng lượng cơ thể, mỗi người có trung bình từ 70 - 80 ml máu/kg cân nặng. Nhờ cơ chế điều hòa giữa máu sinh ra ở tủy xương và máu bị mất đi hàng ngày mà lượng máu tương đối ổn định. Tuy nhiên, nếu bị mất đi một lượng máu quá lơn hoặc chức năng sinh máu của tủy xương bị rối loạn thì lượng máu trong cơ thể sẽ mất ổn định.
Các hoạt động của cơ thể như khi mất nhiều mồ hôi hoặc mất nước thì máu sẽ bị cô đặc và lượng máu có thể giảm. Bên cạnh đó lượng máu trong cơ thể sẽ bị thay đổi do trường hợp bệnh lý như thiếu máu do mất máu, do suy tủy... Nếu mất trên 1/3 tổng lượng máu thì cơ thể sẽ bị rối loạn chức năng của nhiều cơ quan, có thể gây sốc, thậm chí bị tử vọng.
Trên đây là bài viết tham khảo của Công ty Luật Minh Khuê về máu gồm những thành phần nào? Lượng máu trong cơ thể người bình thường ? Hi vọng bài viết này sẽ cung cấp cho các bạn những thông tin hữu ích khi tiến hành nghiên cứu về máu. Nếu có bất kỳ vướng mắc nào liên quan đến bài viết trên thì các bạn có thể để lại bình luận phía dưới, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết!