Mô hình về năng lực sản xuất (capacity model) là mô hình về năng lực sản xuất (capacity model) là mô hình được đưa ra để lập luận rằng tỷ lệ đầu tư có quan hệ chặt chẽ với mô hình tăng tốc và điều chỉnh khối lượng tư bản. Mô hình này cho rằng khối lượng tư bản phụ thuộc vào năng suất của tư bản (tức tỷ lệ sản lượng/khối lượng tư bản). So với mô hình tăng tốc và mô hình điều chính khối lượng tư bản, nó đưa ra lời giải thích thoả đáng hơn về mạt thống kê.
Sự môi giới hay trung gian (intermediation) là gì ?
Sự môi giới hay trung gian (intermediation) là vai trò của các định chế tài chính trong việc chuyển các khoản tiết kiệm và tiền gửi khác của người cho vay sang cho người đi vay. Các trung gian tài chính như ngân hàng thương mại, định chế tiết kiệm và cho vay nhận tiền gửi của các cá nhân và doanh nghiệp, sau đó sử dụng chúng để cho những khách hàng đáng tin cậy vay. Lợi nhuận của các trung gian tài chính là phần chênh lệch giữa lãi suất đi vay (lãi suất tiền gửi) và lãi suất cho vay. Xem hệ thống tài chính.
Các mối liên hệ cung tiền - chi tiêu (money sitpplylspending linkages) là gì ?
1. Theo quan điểm của phái Keynes thì có mối quan hệ gián tiếp giữa cung tiền và tổng cầu thông qua lãi suất. Hình 84a cho thấy sự gia tăng mức cung tiền từ MS lên MS' làm cho lãi suất giảm từ r xuống r'. Điều này làm cho nhu cầu đầu tư tăng từ 1 lên ỉ' (hình 84b). Vì nhu cầu đầu tư là thành tố của tổng cầu, nên tổng cầu tăng và sản lượng tăng nhiều hơn do tác động của nhân từ (hình 81c). Ngoài ra, sự sụt giảm lãi suất còn làm tăng mức chi cho tiêu dùng, Chi phí đi vay thấp hơn làm cho mọi người sử dụng nhiều tiền vay hơn để mua sắm ô tô, ti vi, ...
2. Theo quan điểm của các nhà tiền tệ thì có một mối quan hệ trực tiếp giữa cung tiền và tổng cầu. Các nhà tiền tệ cho rằng sự gia tăng cung tiền trực tiếp làm tăng nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cuối cùng, chứ không phải chỉ có nhu cầu về hàng đầu tư. Quan điểm này dựa trên giả định cho rằng khi các hộ gia đình và doanh nghiệp có nhiều tiền hơn mức giữ tiền cần thiết, họ sẽ chi tiêu phần dôi ra để mua hàng hoá và dịch vụ hiện có trên thị trường.
Như vậy, sự khác biệt về quan điểm của phái Keynes và phái tiền tệ là ở chỗ họ giả định cơ chế tác động nào cho sự thay đổi. Những người theo Keynes truyền thống (hay cực đoan) dự kiến sự gia tăng cung tiền sẽ làm giảm lãi suất, tăng chỉ tiêu cho đầu tư và kích thích sự tăng trưởng của GDP. Ngược lại, các nhà tiền tệ cực đoan dự kiến rằng sự gia tăng cung tiền làm tăng chỉ tiêu cho tiêu dùng và đầu tư, đẩy lãi suất lên và gây ra lạm phát. Xem hiệu ứng lấn át.