1. Khái niệm về dân tộc

Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me... Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

Dân tộc (nation) - hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc). Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các ngữ âm, thổ ngữ bị xoá bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng, sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc.

Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử - văn hóa.

Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội. Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Theo một cách hiểu khác thì dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị - xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số. Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc. Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước. Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên).

2. Phong tục, tập quán là gì?

- Phong tục: Phong tục được hiểu là những hoạt động sống của con người, được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử và ổn định thành nề nếp, được mọi thành viên trong cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện có tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cộng đồng nhất định.

Phong tục được vận dụng linh hoạt và nó không phải là một nguyên tắc bắt buộc, nhưng phong tục không thể tuỳ tiện, nhất thời và thay đổi mạnh mẽ như các quan hệ đời thường. Khi phong tục được coi là một chuẩn mực ổn định trong cách xử sự, thì nó trở thành tập quán xã hội mang tính bền vững. Vì vậy, phong tục còn được hiểu là một bộ phận của văn hoá, đóng vai trò trong việc hình thành truyền thống của một địa phương, của một dân tộc nhằm điều chỉnh hành vi xử sự của cá nhân trong các quan hệ xã hội về tài sản và về nhân thân. Vì vậy, Luật tục và Hương ước có sự tác động mạnh mẽ đến phong tục. Tuy nhiên, không phải mọi phong tục đều có thể tồn tại mãi mãi và phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của các thời kỳ kế tiếp. Thời gian sẽ đào thải những phong tục không còn phù hợp với các quan niệm mới, nền sản xuất mới và theo đó, quan hệ mới phát sinh, những phong tục không phù hợp tự nhiên cũng mai một, mất đi trong sự phát triển không ngừng của quan hệ sản xuất mới.

- Tập quán: Xét về mặt dân tộc và văn hoá - xã hội thì tập quán được hiểu dựa trên những nét cơ bản là những phương thức ứng xử giữa người với người đã được định hình và được xem như một dấu ấn, một điểm nhấn tạo thành nề nếp, trật tự trong lối sống của cá nhân trong quan hệ nhiều mặt tại một cộng đồng dân cư nhất định.

Tập quán có đặc điểm là bất biến, bền vững, do vậy, rất khó thay đổi. Trong những quan hệ xã hội nhất định, tập quán được biểu hiện và định hình một cách tự phát hoặc được hình thành và tồn tại ổn định thông qua nhận thức của chủ thể trong một quan hệ nhất định và tập quán được bảo tồn thông qua ý thức của quá trình giáo dục có định hướng rõ nét. Như vậy, tập quán được hiểu như những chuẩn mực xử sự của các chủ thể trong một cộng đồng nhất định và còn là tiêu chí để đánh giá tính cách của một cá nhân tuân theo hay không tuân theo những chuẩn mực xử sự mà cộng đồng đã thừa nhận và áp dụng trong suốt quá trình sống, lao động, sinh hoạt tạo ra vật chất và những quan hệ liên quan đến tài sản, đến tình cảm của con người trong cộng đồng. Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng và bản lĩnh văn hoá có tính độc lập tương đối giữa các dân tộc. Do vậy, tập quán của mỗi dân tộc đều có những nét đặc thù, khác nhau. Câu ngạn ngữ: “Luật vua thua lệ làng” đã phản ánh đúng thực trạng về tập quán của mỗi dân tộc ở Việt Nam.

3. Đặc điểm tính cách của một dân tộc biểu hiện như thế nào?

Có nhiều yếu tố thống trị con người: Khí hậu, tôn giáo, luật pháp, kỷ cương Nhà nước, gương thành bại đã qua, phong tục, tập quán... từ đó mà hình thành tính cách chung của một xã hội người.

Trong từng nước khác nhau một yếu tố nào đó trong các yếu tố nói trên tác động mạnh hơn, một yếu tố nào đó tác động yếu hơn. Thiên nhiên và khí hậu hầu như chỉ thống trị các dân tộc dã man.

Các tập quán thống trị người Trung Hoa, các luật chuyên chế thống trị người Nhật Bản. Các phong tục tạo ra nguyên khí và tư thế ở Lacédémone (tên gọi khác của thành Aten). Kỷ cương Nhà nước và phong tục cổ xưa tạo nên nguyên khí và tư thế ở Rome.

Có quan điểm cho rằng: Luật pháp tuy có tác động vào phong tục nhưng vẫn phụ thuộc vào phong tục. Montesquieu (một nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị Pháp) luôn dùng những sự thật mới để uốn nắn lại tư tưởng ban đầu thường bị thổi phồng: Thiên nhiên và khí hậu thống trị hầu như tuyệt đối các dân tộc dã man; các dân tộc vốn minh thì chịu ảnh hưởng của luân lý. Tính cách chung của một dân tộc là không gì thắng nổi. Nó tác động đến những kẻ muốn từ chối nó. Nó làm ra luật pháp, hoặc vô hiệu hoá luật pháp. Mà luật pháp không thể chống lại nó, vì luật pháp và tính cách chung là hai thế lực có bản chất khốc nhau. Tính cách chung của một dân tộc vượt ra ngoài hoặc cưỡng chống lại mọi thứ còn lại.

Nếu trên đời này cố một dân tộc mang phong thái chan hoà, trái tim rộng mở, đời sống tươi vuí, có sớ thích, dễ giao lưu tư tưởng, một dân tộc sinh động, thoải mái, hạnh phúc, đôi khi nhẹ dạ, thỉnh thoảnh hớ hênh và đồng thời lại can đảm, rộng lượng, thật thà, có nét danh dự, thì ta chớ nên dùng các luật, pháp quấy rầy nó, để không xúc phạm đến tính cách tốt đẹp của dân tộc ấy. Nếu nói chung tính cách là tốt thì một vài khuyết điểm cũng không đáng kể.

Ở đây người ta có thể ức chế phụ nữ, ra các luật để uốh nắn tập quán phụ nữ, hạn chế tính xa hoa của họ; nhựng có biết đâu rằng ức chế phụ nữ như thê thì có thể mất một hứng thú nào đó vốn là nguồn gốc của sự giàu có, một phong cách lịch thiệp thu hút khách nước ngoài vào đất nước mình.

Vì vậy nhà lập pháp cần tôn trọng tính cách của dân tộc nếu nó không trái ngược với nguyên tắc của chính thể. Ví phỏng ở một dân tộc bản tính vui vẻ mà luật pháp lại đưa vào đó tinh thần thông thái rởm, đồ nho gàn, thì đất nước chẳng được thêm gì, ở cả bề trong lẫn bề ngoài. Hãy để cho dân chúng ở đây làm những việc phù phiếm một cách nghiêm túc và làm những việc nghiêm túc một cách vui về.

4. Mối quan hệ giữa niềm tự tôn dân tộc và an ninh chính trị

Mỗi dân tộc đều có lòng tự tôn và ý chí biểu thị đặc chưng cho quốc gia dân tộc đó. Tinh thần tự tôn dân tộc bắt nguồn từ lòng yêu nước

Nếu bạn không am hiểu triết học thì mối quan hệ của con dân với Tổ quốc, lòng yêu nước, rất khó để cắt nghĩa. Mối liên kết của mỗi người đối với tinh thần dân tộc cũng như văn hóa của nước nhà đều chủ quan và độc đáo. Việc đem ra mổ xẻ lòng yêu nước của người khác chẳng khác nào chỉ trích đội bóng yêu thích của họ, hoặc hỏi tại sao họ thích McDonalds thay vì Burger King. Dù trong mắt người khác có là gì đi chăng nữa, điều quan trọng là lòng yêu nước rất chân thật và dần dà được hình thành trong quá trình khôn lớn, trong đó cha mẹ và giáo dục đóng vai trò to lớn. Và ở đây, cần lưu ý rằng chỉ trích niềm tin của người khác là chuyện không nên, đặc biệt đối với những người tôn trọng gốc gác. Dù bạn có đồng ý hay không, lòng yêu nước vẫn luôn tồn tại trong mỗi người.

Về lịch sử dân tộc: Mỗi đân tộc đều có lịch sử hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn. Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa và truyền thống riêng. Việc giữ gìn truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc chính là nguyên tắc duy trì lòng tự tôn của mỗi dân tộc. Như Việt Nam có truyền thống lịch sử dụng nước và giữ nước nên công dân Việt Nam có ý chí mạnh mẽ trong việc bảo vệ độc lập dự do của dân tộc. Vì họ hiểu, để có được một đất nước hòa bình và phát triển như ngày hôm nay đã có bao người phải ngã xuống.

Lòng tự tôn dân tộc là công cụ cho việc giữ vừng nền an ninh chính trị quốc gia và cũng là tiền đề để xây dựng thể chế chinh trị cho một quốc gia.

5. Mối quan hệ giữa phong tục tập quán và chính trị - pháp luật

Phong tục, tập quán là một bộ phận quan trọng của hệ thống văn hóa, phản ánh “nhãn quan” của một cộng đồng dân tộc về thế giới vũ trụ bao gồm vật chất tự nhiên, môi trường sống xung quanh và những quy tắc ứng xử tương ứng của cộng đồng. Trong lịch sử sinh tồn, để có thể tồn tại và phát triển, các dân tộc, các cộng đồng người phải vượt qua sự cản trở của các thế lực tự nhiên và xã hội để thích ứng, biến đổi, hòa nhập. Các ứng xử đó lặp đi, lặp lại nhiều lần tạo thành nếp sống, nếp nghĩ, biểu hiện rõ nét ở các phong tục, tập quán. Chính các phong tục, tập quán lâu đời này đã tạo nên truyền thống văn hóa, nét đặc thù, điểm khác biệt, hình thành bản sắc của cộng đồng, dân tộc.

Phong tục, tập quán, văn hóa được hình thành trên nền tảng tâm lý xã hội của một cộng đồng, ý thức hệ của một dân tộc. Văn hóa tạo nên sự gắn kết giữa các cá nhân và cộng đồng xã hội trong tính thống nhất và phổ biến. Từ nhận thức chung về thế giới quan và chịu ràng buộc bởi các quy định của luật tục, phong tục, tập quán đã ảnh hưởng sâu sắc đến suy nghĩ, hành vi của mỗi con người, quy định lại những suy nghĩ, hành vi của họ. Từ đó, tạo nên tâm lý xã hội cộng đồng và chuyển hóa cao hơn thành ý thức hệ của một dân tộc, thành thượng tầng kiến trúc của dân tộc, đó là tư tưởng.

Một là, tập quán nguồn hỗ trợ, bổ sung cho pháp luật

Thực tế cho thấy, “trong điều kiện mà trình độ phát triển của các cộng đồng còn khác biệt thì các quy phạm pháp luật ở trình độ khái quát cao khó xâm nhập vào các lĩnh vực cụ thể của đời sống cộng đồng”. Trong khi đó, ở Việt Nam hiện nay, sự phát triển ở các vùng miền, các dân tộc còn không đồng đều, thậm chí vẫn còn có sự chênh lệch không nhỏ về trình độ phát triển, đời sống văn hóa, tinh thần giữa các vùng miền, cộng đồng dân cư. Vì vậy, không phải khi nào và ở đâu, các quy phạm pháp luật với tính khái quát cao cũng hoàn toàn phù hợp để điều chỉnh một cách chính xác, thỏa đáng những vấn đề pháp lý phát sinh ở các vùng miền, các cộng đồng dân cư khác nhau đó. “Do vậy, mỗi một cộng đồng làng xã cụ thể luôn cần đến các quy định cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện cho mọi thành viên trong làng, phản ánh được nhu cầu tổ chức và phát triển của mỗi làng, xã cụ thể”. Điều này đặt ra nhu cầu tất yếu phải áp dụng tập quán nhằm hỗ trợ cho pháp luật quản lý xã hội.

Hơn nữa, sẽ là rất khó để một nhà nước có thể ban hành một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh được hết mọi vấn đề phát sinh trong xã hội, vì rằng, hệ thống các quy phạm pháp luật thì mang tính ổn định, trong khi đó các quan hệ xã hội thì vô cùng đa dạng và luôn phát triển không ngừng, do đó, khi xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật, các nhà làm luật không thể dự liệu hết được các tình huống pháp lý phát sinh trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Nói cách khác, nhà nước không thể nào “luật hóa” được mọi lĩnh vực, mọi ngõ ngách của đời sống xã hội, vì thế, trong thực tiễn sẽ luôn có những tình huống thiếu pháp luật thành văn để điều chỉnh, trong khi đó tập quán lại rất phong phú và đa dạng, với cơ chế điều chỉnh mềm dẻo, linh hoạt chính là nguồn hỗ trợ, bổ sung quan trọng cho pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng.

Hai là, tập quán là tiền đề giúp cho pháp luật đi vào đời sống xã hội

Tập quán có tác động không nhỏ đến việc tiếp nhận và thi hành pháp luật của người dân. Tập quán lạc hậu sẽ trở thành lực cản trong việc tiếp nhận và thi hành pháp luật. Ngược lại, tập quán tiến bộ sẽ đóng vai trò tích cực trong việc tiếp nhận và thi hành pháp luật một cách tự giác của người dân. Việc áp dụng “tập quán tốt đẹp sẽ đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng tình đoàn kết nội bộ, giải quyết các tranh chấp bằng con đường hoà giải, giải quyết linh hoạt, kịp thời, có tình, có lý các mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư, phù hợp với điều kiện của từng địa phương bảo đảm ổn định trật tự xã hội và do vậy, sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật”. Nói cách khác, yếu tố tập quán chính là tiền đề, là điều kiện khách quan giúp cho pháp luật của nhà nước gần với đời sống của người dân hơn, dễ được người dân chấp nhận hơn. Kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội ở nước ta thời gian qua cũng cho thấy, không thể bỏ qua các đặc điểm văn hóa, đặc trưng dân tộc và khu vực trong công tác quản lý xã hội, bởi nếu bỏ qua các yếu tố này thì khi pháp luật đi vào đời sống sẽ khó được người dân tiếp nhận và thi hành một cách tự giác làm cho hiệu quả quản lý xã hội bị giảm đi đáng kể. Do vậy, để quản lý tốt đời sống xã hội thì không thể bỏ qua việc áp dụng tập quán.

Ba là, tập quán là nguồn nội dung của pháp luật

Gắn lịch sử hình thành và phát triển của mình, các quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có các tập quán riêng để quản lý đời sống xã hội trong cộng đồng của họ. Cùng với quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thông qua pháp điển hóa các nhà nước đã chuyển hóa rất nhiều các tập quán mang bản sắc riêng của dân tộc mình thành các quy phạm pháp luật thành văn. Ở Việt Nam hiện nay, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà nước cũng đã thừa nhận rất nhiều những tập quán tốt đẹp có sẵn, biến chúng thành pháp luật.

Tập quán không chỉ là nguồn bổ sung cho pháp luật, là tiền đề khách quan đưa pháp luật vào cuộc sống mà còn là nguồn nội dung của pháp luật, là “chất liệu quý” để hoàn thiện một nền pháp luật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Vì vậy, trên cơ sở xác định đúng đắn vị trí, vai trò, giá trị của tập quán trong giai đoạn phát triển hiện nay, trong Nghị quyết 48 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Bộ Chính trị đã chỉ rõ cần “nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật”. Quán triệt chủ trương này, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhà nước đã từng bước thể chế hóa thành các quy định cụ thể trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực dân sự. Điều này không chỉ tạo ra hành lang pháp lý cần thiết cho việc áp dụng tập quán trong điều chỉnh các quan hệ xã hội mà còn góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn những nét văn hóa riêng của dân tộc, thúc đẩy lòng tự hào dân tộc trong giao lưu, hội nhập quốc tế.

Dù xã hội đã có những biến đổi theo thời gian nhưng những giá trị tích cực của tập quán xưa vẫn là “những mạch ngầm ẩn dưới tầng sâu của văn hoá dân tộc và không hề dứt”. Bởi lẽ, “nhân dân Việt Nam vốn có tinh thần trân quý những giá trị truyền thống, có những phương pháp lưu giữ tập quán rất bền vững. Chính vì vậy, các tập quán tốt đẹp hoặc thuận lợi cho nhân dân hầu như không mai một. Đây chính là điều kiện quan trọng để đảm bảo tính khả thi cho việc áp dụng tập quán”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không phải tập quán nào tồn tại trên thực tế cũng tiến bộ, cũng hoàn toàn phù hợp để áp dụng trong điều kiện hiện nay. Trong lời “Tựa” cuốn “Việt Nam Phong Tục”, nhà nghiên cứu Phan Kế Bính cũng đã khẳng định: “đại để tục gì cũng vậy, phải trải lâu tháng lâu năm mới thành được, mà trong những tục ấy cũng có tục hay, cũng có tục dở”. Vì vậy, để phát huy được vai trò, giá trị của tập quán trong điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ dân sự nói riêng, góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các chủ thể, cũng như đảm bảo trật tự xã hội thì việc áp dụng tập quán cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo trong quá trình áp dụng tập quán có thể kế thừa được những tập quán “hay” và loại bỏ được những tập quán “dở”.