1. Khái niệm pháp luật về ủy thác thi hành án dân sự

Pháp luật về ủy thác thi hành án là một chế định của pháp luật về THADS, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình ủy thác thi hành các bản án, quyết định về dân sự bao gồm các quy định về quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các tổ chức, cá nhân có liên quan đến THA; quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý, tổ chức việc ủy thác thi hành án; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của chấp hành viên và trình tự, thủ tục ủy thác thi hành án.

2. Đặc điểm của ủy thác thi hành án dân sự

Pháp luật về ủy thác thi hành án dân sự do là một bộ phận cấu thành của pháp luật thi hành án dân sự nên cũng mang đặc điểm chung của pháp luật về ủy thác thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, pháp luật ủy thác thi hành án có một số đặc điểm riêng như sau:

2.1 Là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống pháp luật về thi hành án dân sự

Pháp luật về ủy thác thi hành án dân sự là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống pháp luật về THADS (như Luật THADS, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành pháp lệnh). Đặc điểm này bắt nguồn từ đặc thù của ủy thác THADS chính là một khâu, một hoạt động nhằm mục đích thi hành bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực cảu Tòa án.

2.2 Phạm vi điều chỉnh

Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về ủy thác thi hành án dân sự khá hẹp, chỉ bao gồm một số quy phạm pháp luật nằm trong hệ thống pháp luật thi hành án dân sự, nhưng có đặc điểm riêng là phản ánh tính đặc thù của ủy thác thi hành án dân sự, vừa có những quy phạm mang tính hành chính, vừa có những quy phạm mang tính tố tụng. Nhóm quy phạm pháp luật mang tính chất hành chính thể hiện chủ yếu trong việc quy định chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ phối hợp cơ quan thi hành án ủy thác và cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác; nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên, cán bộ trong các cơ quan thi hành án... Nhóm quy phạm pháp luật mang tính chất tố tụng chủ yếu thể hiện trong các quy định về thẩm quyền; trình tự, thủ tục ủy thác thi hành án...

2.3 Đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật ủy thác thi hành án dân sự là quá trình ủy thác và nhận ủy thác thực hiện việc thi hành án dân sự. Pháp luật ủy thác thi hành án dân sự quy định mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án là bên ủy thác và cơ quan nhận ủy thác trong những trường hợp nhất định, quy định về căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục ủy thác thi hành các bản  án, quyết  định  dân sự đã có hiệu lực pháp luật của tòa án, làm cho chúng kịp thời được thực thi trên thực tế một cách hiệu quả nhất. Sự vi phạm các căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục ủy thác thi hành án dân sự có thể dẫn đến hậu quả không khắc phục được, gây thiệt  hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và công dân.

2.4 Mối quan hệ giữa ủy thác thi hành án dân sự với pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung khác

Pháp luật ủy thác thi hành án dân sự có mối quan hệ mật thiết mang tính nhân quả với pháp luật thi hành án dân sự, pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung khác, ví dụ các quy định về thời hạn cấp bản án, quyết định có hiệu lực của toà án, kháng nghị, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm... đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thi hành án; hoặc các quy định về đăng ký tài sản, giữ bí mật tài khoản, đăng ký giao dịch có bảo đảm... đều tác động đến hiệu quả của việc ủy thác thi hành án dân sự. Đồng thời đến lượt mình, các quy định của pháp luật ủy thác thi hành án dân sự cũng tác động ngược trở lại đối với pháp luật thi hành án dân sự; pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung khác.

3. Nội dung của pháp luật về ủy thác thi hành án dân sự

Nội dung của pháp luật về ủy thác thi hành án dân sự là tổng thể các quy phạm pháp luật bao gồm đạo luật; các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật liên quan. Nó điều chỉnh trình tự, thủ tục ủy thác thi hành án dân sự. Pháp luật ủy thác thi hành án dân sự luôn xoay chuyển, vận động cho phù hợp với các đặc điểm, yêu cầu của nền kinh tế, của hoạt động tư pháp ở mỗi quốc gia. Trong thời gian qua, các văn bản pháp luật này bước đầu tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho cơ quan thi hành án thực hiện ủy thác thi hành án dân sự
Những văn bản pháp luật về ủy thác THADS nêu trên ghi nhận những nội dung cơ bản như: Căn cứ THADS; các trường hợp ủy thác THADS; thẩm quyền ủy thác thi hành án; thủ tục ủy thác thi hành án, thủ tục nhận ủy thác. Như vậy, pháp luật về ủy thác THADS đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu trong công tác thi hành án nói chung và ủy thác THADS nói riêng, góp phần xác lập cơ chế thi hành án một cách có hiệu quả cũng như bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về THADS, đáp ứng được phần lớn yêu cầu của thời kỳ đổi mới.
Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng thực trạng hệ thống pháp luật về ủy thác THADS và pháp luật về THADS ở nước ta vẫn còn một số thiếu sót, bất cập, văn bản quy phạm pháp luật không phải ít nhưng thiếu thống nhất, một số văn bản chồng chéo nhau làm cho thực tiễn áp dụng pháp luật vào thi hành án gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, nhiều lúc không biết áp dụng văn bản nào để giải quyết và việc áp dụng pháp luật để thi hành án giữa các CQTHA và giữa các địa phương thiếu thống nhất. Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật về ủy thác THADS cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước là việc làm vô cùng cần thiết và ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay.

4. Ý nghĩa pháp luật về ủy thác thi hành án dân sự

Ủy thác THADS là một khâu rất quan trọng trong hoạt động THADS. Do vậy, pháp luật về ủy thác THADS cũng có một vai trò, ý nghĩa quan trọng.
- Pháp luật Ủy thác THADS tạo ra hành lang pháp lý bảo đảm cho CQTHADS, CHV thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ
Thông qua các quy định cụ thể, chặt chẽ về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình THADS, pháp luật Ủy thác THADS tạo ra hành lang pháp lý bảo đảm cho CQTHADS, CHV thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, các tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ được quy định làm cho các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thực thi trên thực tế. 
- Pháp luật về uỷ thác THADS góp phần giải quyết khó khăn trong công tác thi hành án, bởi trong thực tế, việc một cá nhân đăng ký hộ khẩu  một nơi nhưng làm việc hay cư trú ở nơi khác, có nhiều tài sản ở nhiều địa phương khác nhau là hiện tượng khá phổ biến trong xã hội, trong khi các cơ quan THADS được tổ chức thực hiện, chức năng theo địa bàn lãnh thổ. Để khắc phục thực tế này, quy định về cơ chế uỷ thác đã giải quyết khó khăn trên cho hoạt động thi hành án và để đảm bảo quyền, nghĩa vụ cá nhân, tổ chức được thực hiện bình đẳng trước pháp luật thì cơ chế uỷ thác thi hành án đặt ra là yêu cầu khách quan và tất yếu.
- Pháp luật về ủy thác THADS xác định căn cứ để ủy thác THADS
Căn cứ ủy thác THADS là cơ sở để xác định điều kiện ủy thác đến cơ quan THADS khác, nơi người phải THA có điều kiện thi hành án (nơi có tài sản, nơi cư trú, nơi tạm trú) để thi hành án. Căn cứ quan trọng để ủy thác THADS là khi phát hiện tài sản của người phải THA ở nơi khác để cơ quan THADS nơi khác xử lý, nhằm đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa được thi hành một cách nghiêm chỉnh, nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm được tiền bạc, thời gian đi lại.
- Pháp luật về uỷ thác THADS xác định thẩm quyền ủy thác THADS
Pháp luật về uỷ thác THADS quy định thẩm quyền của cơ quan THADS cấp tỉnh, thẩm quyền của cơ quan THADS cấp huyện và thẩm quyền của cơ quan thi hành án cấp quân khu để việc ủy thác THADS được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật nhằm tránh sự nhầm lẫn, chồng chéo hoặc đùn đẩy lẫn nhau khi thực hiện ủy thác THADS và khi các cơ quan THADS có căn cứ để ủy thác THADS .
- Pháp luật về ủy thác THADS xác định trình tự, thủ tục ủy thác thi hành án
Thủ tục ủy thác thi hành án được quy định đối với cơ quan THADS trước khi ủy thác THADS phải xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê biên trên địa  bàn có liên quan đến ủy thác rồi mới ủy thác THADS đến cơ quan THADS khác tiếp tục thực hiện thi hành án đối với người phải thi hành án có tài sản tại đại phương, mặt khác cơ quan THADS nhận ủy thác không được trả lại quyết định ủy thác cho cơ quan THADS đã ủy thác mà phải tiếp tục thực hiện việc thi hành án theo quy định của Luật THADS hiện hành và trong thời hạn nhất định, Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết thi hành án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan THADS đã nhận ủy thác về việc nhận được quyết định ủy thác.
- Pháp luật về ủy thác THADS là căn cứ để bảo vệ quyền lợi của đương sự trong THADS
Thông qua pháp luật về ủy thác THADS , đương sự biết được việc hồ sơ của họ khi cơ quan THADS đã thực hiện xong tài sản tại địa phương nhưng người phải THA vẫn còn nợ thì cơ quan THADS sẽ ủy thác tới cơ quan THADS nơi khác khi người phải THA có điều kiện THA ở đó để các bên đương sự có căn cứ thỏa thuận thi hành án, thỏa thuận cách thức xử lý tài sản ở nơi nào trước.
Tóm tại, ủy thác THADS là một thủ tục rất quan trọng trong quá trình THADS. Pháp luật THADS đã quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục ủy thác THADS.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hành chính - Công ty Luật Minh Khuê