1. Phương pháp cung cầu thanh khoản

Vấn đề thanh khoản được đặt ra chỉ khi NH đứng trước các nhu cầu rút tiền của khách hàng. Lúc này NH cần phải cân đối nhu cầu rút tiền và lượng tiền hiện có của mình. Bên cạnh đó cần cân đối với các khoản huy động vốn tiếp theo. Vì thế cần phải xem xét sự tương quang cung cầu thanh khoản trong từng giai đoạn nhất định của mỗi ngân hàng.

Một số đặc điểm trong phương pháp cung cầu thanh khoản?

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

1.1 Cung thanh khoản

Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của NH, là nguồn cung cấp thanh khoản cho NH, bao gồm:

Các khoản tiền gửi đang đến (S1): Có thể coi đây là nguồn cung quan trọng nhất của NH. Để gia tăng nguồn cung này, các NH có thể thực hiện các biện pháp như: tăng lãi suất huy động kèm theo đó là các dịch vụ đi kèm việc huy động. Hoặc là các kênh đầu tư khác có mức lãi suất đầu tư kém hấp dẫn hơn thì nguồn cung này cũng được tăng lên

Doanh thu từ việc bán các khoản dịch vụ (S2): Nguồn cung này có thể đến từ việc các NH thực hiện thu phí đối với các khách hàng thực hiện các nghiệp vụ như bảo lãnh, mở L/C hay thanh toán các món chuyển tiền quốc tế, trong nước

Thu hồi tín dụng đã cấp (S3): Đây chính là nguồn cung quan trọng thứ hai của cung thanh khoản. Hoạt động tín dụng là hoạt động chính của NH, do đó việc thu hồi các khoản tín dụng đã cấp mang lại nguồn thu lớn cho NH. Nếu các khoản tín dụng đều thanh toán đ ng hạn thì không những mang lại nguồn cung lớn mà còn đảm bảo cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của NH.

Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S4): NH có thể chuyển hóa các tài sản của mình thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5): Việc tăng cung thanh khoản có thể đến từ việc đi vay trên thị trường tiền tệ. Các giao dịch này được thực hiện giữa các NHTM với nhau hay giữa NHTM với NHNN

1.2 Cầu thanh khoản

Là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của NH, các khoản làm giảm quỹ của NH. Trong lĩnh vực kinh doanh của NH, những hoạt động sau đây tạo ra cầu về thanh khoản:

Khách hàng rút các khoản tiền gửi (D1): Đây là nhu cầu thường xuyên, tức thời và xảy ra hằng ngày ở các NHTM. Các NHTM luôn phải đảm bảo một khoản dự trữ để đáp ứng nhu cầu thanh toán từ các nguồn tiền gửi không kì hạn và các nguồn tiền gửi thanh toán. Sự gia tăng ở cầu thanh khoản này có thể là do biến động về lạm phát, chênh lệch đáng kể về lãi suất huy động giữa các NH cũng như những cơ hội đầu tư có lãi suất hấp dẫn hơn so với việc gửi tiền vào NH.

Yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao (D2): Đây cũng là một nhân tố tác động đáng kể đến cầu thanh khoản đối với NH. Nhu cầu này chịu tác động của nhiều yếu tố nhưng nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp, lãi suất cho vay giữa các NHTM với nhau.

Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi (D3): Đây là khoản tiền mà NH sẽ phải hoàn trả cho các khoản đi vay từ các tổ chức KT, cá nhân hay từ các tổ chức tín dụng hoặc NHNN

Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ (D4): Đây là các khoản chi phí trả lãi huy động, trả lãi phát hành giấy tờ có giá mà NH đã huy động trước đây đến hạn NH phải thanh toán cho khách hàng

Thanh toán cổ tức cho các cổ đông (D5): Đây là khoản tiền mà NH phải trả cho các cổ đông của mình

Khi xem xét về thời gian, nhu cầu thanh khoản của một NH bao gồm cả trong ngắn hạn và dài hạn như sau: Đối với nhu cầu thanh khoản ngắn hạn mang tính tức thời. Các khoản tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi có kỳ hạn đến hạn, các công cụ huy động thuộc thị trường tiền tệ nằm trong phạm vi nhu cầu thanh khoản ngắn hạn. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thuộc loại này, đòi hỏi NH phải duy trì ở mức độ khá lớn các loại tài sản có tính thanh khoản cao (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHTW và các định chế tài chính khác, chứng khoán chính phủ...)

Đối nhu cầu thanh khoản dài hạn do các nhân tố mang tính chất thời vụ, chu kỳ và xu hướng tạo ra. Chẳng hạn nhu cầu rút tiền hay vay mượn của cá nhân thường đặc biệt tăng cao vào các dịp lễ hội trong năm để trang trải chi tiêu, mua sắm. Để đáp ứng loại nhu cầu thanh khoản này, đòi hỏi NH cần phải dự phòng trước khả năng cung cấp thanh khoản từ nhiều nguồn khác nhau và ở mức độ cao hơn so với nhu cầu thanh khoản ngắn hạn. Ví dụ như đặt kế hoạch thu hút các khoản tiền gửi mới, thỏa thuận vay dài hạn từ công chúng hoặc từ quỹ dự trữ của các NH khác...

Đánh giá trạng thái thanh khoản: Trạng thái thanh khoản ròng = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản (NLP)

Các trường hợp có thể xảy ra như sau:

Thặng dư thanh khoản ( NLP > 0): NH ở trạng thái thừa thanh khoản. Khi đó nhà quản lí phải đưa ra quyết định để sử dụng nguồn thanh khoản thừa này một cách hợp lí và đ ng thời điểm để đầu tư kiếm lời trong thời gian chờ để đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho tương lai.

Thừa thanh khoản là một trạng thái mất cân bằng của các NHTM, xảy ra trong nền KT hoạt động kém hiệu quả, NH không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay. Trong phạm vi một NH, đây là việc không khai thác hết tiềm năng sinh lời của tài sản Có, chiếm giữ quá nhiều tài sản Có ở dạng trực tiếp hay gián tiếp không có khả năng sinh lời ( tồn quỹ tiền mặt quá lớn) hoặc có thể do NH tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả

Thanh khoản thừa thường được NH sử dụng như sau:Mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp đã bán ra trước đó; Cho vay trên thị  trường tiền tệ ( phù hợp với thời hạn nhàn rỗi của số thanh khoản thừa);Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng khác.

Thiếu hụt thanh khoản ( NLP < 0): NH đang trong tình trạng thiếu vốn để hoạt động. Khi NH không đủ vốn đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, của nền KT có thể gọi là thiếu vốn tuyệt đối, nghĩ là thiếu vốn đối với nhu cầu cho vay và đầu tư cho nền KT. Thiếu vốn tuyệt đối dễ mất những cơ hội đầu tư tốt có thể mang lại lợi nhuận cho NH, thậm chí có khả năng mất khách hàng khi họ phải đến NH khác để được đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn. Từ việc mất khách hàng vay vốn sẽ kéo theo việc mất khách hàng tiền gửi, vì khi NH thiếu vốn sẽ làm giảm lòng tin người gửi tiền, khả năng huy động vốn của NH kém đi.

Trường hợp thiếu hụt thanh khoản nhà quản trị cần đưa ra quyết định ở đâu và thời điểm nào cần phải bổ sung thanh khoản để đáp ứng nhu cầu vốn với chi phí thấp nhất và kịp thời nhất. NH có thể áp dụng các biện pháp sau để xử lý:Sử dụng dự trữ bắt buộc dư ra nếu có ( do tiền gửi kì này giảm so với kì trước);Bán dự trữ thứ cấp ( các chứng khoán ngắn hạn do chính phủ phát hành);Vay qua đêm, vay tái chiết khấu tại NHNN; Huy động từ thị trường tiền tệ: phát hành chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn để huy động vốn.Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản bằng với cầu thanh khoản (NPL=0) thì tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản. Tuy nhiêu đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế.

2. Phương pháp khe hở tài trợ

Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là: khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng. Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, NH phải đối mặt với khe hở tài trợ (financing gap). Khe hở này được đo bằng độ chênh lệch giữa tổng nguồn vốn huy động trung bình và tổng dư nợ trung bình. Khe hở tài trợ = Tổng dư nợ trung bình - Tổng nguồn vốn huy động trung bình. Nếu khe hở này là dương thì NH buộc phải bù đắp bằng các khoản tiền mặt và các tài sản có khả năng thanh khoản hoặc vay nợ trên thị trường tiền tệ.

3. Phương pháp cấu trúc nguồn vốn

Với phương pháp này, bước đầu tiên là tiền gửi và các nguồn vốn khác nhau của NH được chia thành nhiều nhóm dựa trên khả năng vốn bị rút ra khỏi NH, ví dụ như: Nhóm vốn “nóng”: Nhóm này bao gồm vốn đi vay và tiền gửi nhạy cảm với lãi suất, có thể rút ra khỏi NH theo kế hoạch. Nhóm vốn kém ổn định: Nhóm này bao gồm các khoản tiền gửi của khách hàng mà trong đó có thể bị rút ra khỏi NH tại một thời điểm nào đó theo kì kế hoạch. Nhóm vốn ổn định: Đây là nhóm mà NH tin rằng ít có khả năng bị chuyển ra khỏi NH nhất

Tiếp theo, nhà quản lý thanh khoản phải dành riêng một phần vốn thanh khoản đối với mỗi nhóm vốn nêu trên (dự trữ thanh khoản) được xác định theo công thức:

Dự trữ thanh khoản vốn = ∑ tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x (nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc)

Sau đó nhà quản trị NH dự tính con số vốn vay tối đa tiềm năng và cần có lượng dự trữ thanh khoản hay năng lực vay vốn hợp lý, tương đương với 100% phần chênh lệch giữa tổng dư nợ thực tế và tổng cho vay tối đa tiềm năng. Do đó:

Tổng yêu cầu thanh khoản của NH = ∑ Ttỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x (nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc) + 100 x (quy mô cho vay tối đa tiềm năng – tổng dư nợ hiện tại).

4. Phương pháp chỉ số thanh khoản

Một số nghiên cứu như của Aspachs và cgt (2005), Rychtárik (2009), Praet và Herzberg (2008) đã tập trung vào 4 tỷ số thanh khoản sau:

Trong đó: Tài sản thanh khoản = Tiền mặt + tiền gửi tại NHNN + Đầu tư giấy tờ có giá

Tỷ số cung cấp thông tin chung về thanh khoản của NH. Nghĩa là trong tổng số tài sản của NH tỷ trọng tài sản thanh khoản là bao nhiêu. Tỷ số này cao tức là khả năng thanh khoản của NH tốt. Tuy nhiên khi chỉ số này quá cao thì NH sẽ mất đi những cơ hội để đầu tư vào các khoản mục khác để có tỷ suất sinh lợi cao hơn. Việc dùng tài sản thanh khoản để đo lường khả năng thanh khoản rất tốt. Tỷ số này nghĩa là tài sản thanh khoản của NH chiếm tỷ trọng là bao nhiêu trong tiền gửi và vốn huy động ngắn hạn. Tỷ số này cũng giống tỷ số L1, tức là tỷ số này cao cũng thể hiện thanh khoản của NH là tốt. Tuy nhiên nếu tỷ lệ này quá cao thì NH cũng sẽ mất đi các khoản đầu tư khác. Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm khoản cho vay trên tổng tài sản NH. Do đó tỷ lệ này cao tức là khả năng thanh khoản của NH yếu. Nếu các khoản cho vay chiếm tỷ trọng quá cao trong tổng tài sản thì khi có nhu cầu rút tiền mặt từ các nguồn huy động tăng cao thì NH sẽ không đáp ứng được. Đây cũng chính là công thức để tính khả năng thanh khoản được sử dụng trong bài nghiên cứu này.

Tỷ số cũng giống L3, tức là nếu tỷ lệ L4 này cao thì khả năng thanh khoản của NH yếu. Tỷ số này cho biết mức độ tài trợ cho các khoản vay bằng nguồn vốn ngắn hạn. Nếu tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ các khoản cho vay dùng nguồn chủ yếu từ các nguồn vốn ngắn hạn. Điều này thể hiện sự mất cân đối về cơ cấu kì hạn cho vay và huy động của NH Còn theo nghiên cứu của P.Vodova (2012) thì ngoài 4 tỷ số như trên thì tác giả còn nghiên cứu thêm 1 tỷ số nữa. Đó là : Tỷ số này giống như L3. Tỷ số này càng cao thì thanh khoản NH càng thấp. Tỷ lệ này thấp có nghĩa là khoản vay được cung cấp bởi chủ yếu từ các các khoản tiền gửi của NH. Chỉ số này đặt ra để tránh việc NH cho vay quá mức so với nguồn vốn nhằm đảm bảo tính chủ động trong thanh toán.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê